Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Người Việt mua nhà ở Mỹ có dễ dàng?

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120407/nguoi-viet-mua-nha-o-my-phai-qua-nhieu-tram.aspx

Sự kiện doanh nhân Phạm Đình Nguyên - Tổng giám đốc Công ty Dịch vụ phân phối tổng hợp quốc tế (IDS), trụ sở tại TP.HCM, trở thành người Việt Nam mua cả một thị trấn Buford (Mỹ) cho thấy có một số người Việt tìm kiếm cơ hội mua bất động sản (BĐS) ở Mỹ.

Tuy nhiên, những yêu cầu khắt khe trong việc chuyển tiền ra nước ngoài đã khiến cho việc mua BĐS tại Mỹ diễn ra âm thầm, không chính thức.

Chuyện không bất ngờ
Sau khi biết thông tin hai người Việt mua lại thị trấn Buford với giá 900.000 USD, ông P. (sống tại TP.HCM, có 2 căn nhà tại Mỹ) không tỏ ra bất ngờ lắm, bởi theo ông, không những người Việt mà các nhà đầu tư cá nhân trên thế giới đều muốn mua BĐS tại Mỹ.


Thị trấn Buford đã về tay một người Việt - Ảnh: Reuters 

Tại Mỹ, tùy theo BĐS ở từng bang, có vị trí gần trường học tốt hay không… mà có giá cả dao động từ vài trăm ngàn USD đến cả triệu USD. Đặc điểm của những căn nhà tại Mỹ là nhà thường có diện tích rộng, trong đó sân vườn chiếm diện tích hết ½…

Ở Mỹ, mỗi căn nhà đều có lý lịch rất rõ ràng như đã được xây dựng bao nhiên năm, đã qua bao nhiêu đời chủ, giá bán gần nhất là bao nhiêu, giá thị trường hiện nay là bao nhiêu… Chính vì vậy mà người mua sau lúc nào cũng mua được giá “tầm tầm”.

Trong vài năm trở lại đây (đặc biệt từ năm 2008 đến nay), tình hình kinh tế Mỹ gặp nhiều khó khăn nên có thời điểm giá BĐS giảm thấp xuống còn phân nửa, thị trường BĐS không có người mua vì không có ngân hàng cho vay (tại Mỹ, ngươi mua nhà thường vay ngân hàng từ 70-80% giá trị nhà và thực hiện trả góp trong vòng vài chục năm). Chính vì vậy, những người có tiền mặt đi mua BĐS thường gặp nhiều thuận lợi hơn tại Mỹ.


Mua thị trấn khó sinh lời
Một số người trong giới đầu tư BĐS tại TP.HCM tỏ ra khá ngạc nhiên và lấy làm lạ với quyết định của mua thị trấn Buford của doanh nhân Phạm Đình Nguyên - Tổng giám đốc Công ty Dịch vụ phân phối tổng hợp quốc tế (IDS), trụ sở tại TP.HCM.
Theo phân tích của một số người trong giới kinh doanh BĐS, thì đây là thị trấn không có người dân sinh sống, không có đường xe lửa qua nên có hạn chế về giao thông. Mua BĐS ở Mỹ rẻ nhưng bán cũng rẻ, hơn nữa thị trường BĐS vào Mỹ giai đoạn này cũng không mấy sôi động. Do đó việc đầu tư BĐS vào Mỹ thời điểm này không hẳn có lợi khi nền kinh tế Mỹ vẫn chưa thực sự hồi phục, trong khi lãi suất gửi tiết kiệm tại Việt Nam lại đang ở mức cao.
Ông P. còn cho biết, theo ông thì giá BĐS ở Mỹ rẻ hơn ở VN, chẳng hạn một căn nhà tại Việt Nam khoảng 10 tỉ đồng, có thể chỉ khoảng 100m2 nhưng tại Mỹ có thể vài trăm m2, có 7-8 phòng ngủ…

Tuy nhiên, so sánh này cũng chỉ là tương đối bởi nước Mỹ rộng lớn, nhiều bang, nhiều vùng nhà cửa khá thưa thớt, trong khi tại các đô thị VN thì đất chật người đông. Hơn nữa, ở Mỹ mua nhà giá rẻ thì sau này giá bán cũng rẻ theo.

Chuyển tiền mua nhà rất khó
Theo Ngân hàng Nhà nước VN, chỉ cho các cá nhân người Việt chuyển tiền ra nước ngoài với mục đích sau: học tập, chữa bệnh; đi công tác, du lịch, thăm viếng; trả các loại phí, lệ phí; trợ cấp cho thân nhân ở nước ngoài; chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài; chuyển tiền trong trường hợp định cư; các mục đích chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.
Trong trường hợp chuyển tiền đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, phải có giấy phép của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Ông P. cho hay, người VN thường mua BĐS tại Mỹ khi muốn định cư, con đi du học… nhưng để có được BĐS ở Mỹ, người Việt phải qua rất nhiều “trạm” như chuyển tiền thanh toán, thuế…, trong đó quy định ngặt nghèo nhất đó là chuyển tiền.

Tại VN, rất khó chuyển tiền cho mục đích mua nhà ở nước ngoài. Theo quy định thì cá nhân phải có dự án cụ thể mới được cơ quan chức năng cho chuyển tiền qua hệ thống ngân hàng, chứ không phải mang tiền mặt như VN. Còn Mỹ lại kiểm soát các dòng tiền rất chặt để chống rửa tiền. Do đó, nếu người Việt không có người thân tại Mỹ thì rất khó có thể mua nhà.

Theo cách trả lời báo chí của doanh nhân Phạm Đình Nguyên, để hoàn thành việc mua thị trấn Buford, sắp tới ông sẽ phải trả 800.000 USD. Nếu người thân của ông Nguyên ở bên Mỹ không có tiền mặt sẵn để cho vay thì ông phải xin giấy phép đầu tư trong vòng 30 ngày để còn kịp chuyển tiền.

Theo ông P., những người mua được nhà tại Mỹ đa số chuyển tiền “chui” hoặc lách dưới hình thức hỗ trợ người thân nhưng khoản tiền chuyển đi rất nhỏ, không thể lên đến vài chục ngàn hoặc vài trăm ngàn bằng giá trị BĐS.

Còn chuyển tiền qua hệ thống chuyển tiền "chui” thì cũng khó hợp thức hóa được nguồn tiền này trong tài khoản tại Mỹ (mua bán BĐS phải thanh toán qua tài khoản), nếu không chứng minh được nguồn gốc tiền, số tiền này có thể bị tịch thu vì Mỹ đã có luật Chống rửa tiền.

Hiện tại, BĐS ở Mỹ cho phép người nước ngoài vào mua để thu hút nguồn vốn, do vậy nhiều ý kiến cũng cho rằng VN cũng nên có những quy định dễ dàng hơn cho người nước ngoài sở hữu BĐS, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thị trường BĐS VN đang khá trầm lắng. Chính nguồn vốn này rót vào vào sẽ giúp thị trường khởi sắc hơn, Nhà nước thu hút được thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài.


Một doanh nhân là Tổng giám đốc một công ty chế biến thực phẩm tại TP.HCM cho biết, cách đây vài năm ông có dịp gặp ông Phạm Đình Nguyên - Tổng giám đốc công ty Dịch vụ phân phối tổng hợp quốc tế (IDS) trong dịp gặp gỡ doanh nhân TP.HCM.
Theo vị Tổng giám đốc này, ông Nguyên còn rất trẻ (khoảng 37 - 38 tuổi) từng học Đại học Kinh tế TP.HCM và từng làm việc ở Coca Cola. Ông Nguyên hiện sống tại TP.HCM nhưng có người thân trong gia đình định cư bên Mỹ.
Công ty của ông Nguyên chuyên về nhập khẩu và phân phối, quy mô vừa, chủ yếu là đại diện phân phối sản phẩm cho các công ty. Theo đánh giá của vị tổng giám đốc này, ông Nguyên là người rất có kinh nghiệm trong phân phối hàng, chủ yếu phân phối mặt hàng hóa mỹ phẩm cho các siêu thị. (Hoàng Việt)

Thanh Xuân

Phá sản vì sống nhờ ngân hàng

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120408/pha-san-vi-song-nho-ngan-hang.aspx


Nguồn vốn tích lũy kém, lệ thuộc chủ yếu vào vốn ngân hàng (NH) trong khi lãi suất (LS) quá cao, tiền tệ bị siết... Đó là lý do khi NH lâm bệnh, hàng loạt doanh nghiệp (DN) đứng bên bờ vực phá sản.

90% doanh nghiệp phụ thuộc 100% vốn NH
Theo ông Dương Ngọc Minh, Phó chủ tịch Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), có nhiều nguyên nhân khiến các DN thủy sản trong nước lâm vào tình trạng khó khăn như hiện nay, nhưng đáng kể nhất vẫn là việc phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay NH. Trước đây, các NH đua nhau cho DN thủy sản vay để xây dựng nhà xưởng ồ ạt. Đến khi kinh tế bị khủng hoảng, họ đồng loạt rút vốn về khiến DN lâm vào hoàn cảnh sống không nổi, chết không xong. Ông Minh cũng thừa nhận, trên thực tế hiện có đến 90% các DN chế biến thủy sản VN hoạt động dựa 100% vào nguồn vốn vay NH, từ chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, vốn cố định, vốn lưu động... Do đó, khi NH thu vốn về thì các DN này chỉ còn nước đóng cửa.

Ở lĩnh vực bất động sản (BĐS) cũng tương tự, ông Nguyễn Văn Đực - Chủ tịch HĐQT Công ty địa ốc Đất Lành cho biết, "mô hình" chung của các DN hiện nay chỉ có vốn từ 10% - 30%, số còn lại phụ thuộc vào nguồn vay NH và tiền đầu tư của khách hàng. Do đó khi thị trường BĐS bị đóng băng, NH không cho vay thì các DN cũng không có đường xoay xở. TS Đỗ Thị Loan, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội BĐS TP.HCM, cho rằng bên cạnh việc LS chính thức đang cao ngất ngưởng, họ phải chịu thêm từ 3% - 5% LS phi chính thức. Mức LS phi chính thức phụ thuộc vào mối quan hệ của từng DN với NH tùy theo thời điểm cụ thể. Hồi cuối năm 2011, có DN cho biết tổng mức LS cả chính thức và phi chính thức lên đến gần 30%.

Ông Hồ Thanh Hiển, giám đốc một DN sản xuất ngành thép ở TP.HCM cho hay kể từ năm ngoái, công ty ông không tiếp tục vay NH, chấp nhận không đầu tư mới và tập trung vào trả hết các khoản vốn vay trước đó. “Đặc thù của DN sản xuất trong nước là vốn đầu tư vào nhà máy quá lớn, nhập khẩu toàn bộ máy móc thiết bị của nước ngoài với giá cao, đổ vốn xây dựng nhà xưởng cùng phí thuê đất hoặc mua đất xây nhà xưởng đắt đỏ, mua xe vận chuyển hàng hóa... cùng những chi phí xăng dầu tăng, điện tăng... khiến cho việc tích lũy vốn không dễ dàng. Trong khi các nguồn vốn khác như chứng khoán, đầu tư gián tiếp lại vô cùng hạn chế, nên bắt buộc DN trong nước hầu hết phải lệ thuộc vào nguồn vốn của NH”, ông Hiển nói.

Nhiều doanh nhân thú nhận, vấn đề của DN Việt Nam là từng có một thời gian dài đầu tư dàn trải. Vốn tự có chỉ 1 đồng nhưng vay tới 4 đồng để mở rộng sản xuất hoặc đầu tư vào BĐS... Nhiều DN có cái nhìn ngắn hạn, tích lũy được 30 tỉ đồng đã vội vàng vay 20 tỉ để mua đất đai, đến lúc thị trường đất đai đóng băng không thể thu hồi vốn, không chỉ mất 30 tỉ tích lũy mà còn phải trả nợ cả gốc lẫn lãi vốn NH. Nếu tình trạng này tiếp diễn, trong khi thị trường mở cửa, DN nước ngoài mạnh vốn vào Việt Nam ngày càng nhiều thì sẽ mất hoàn toàn thị trường.

Hậu quả của sự phụ thuộc quá lớn vào vốn NH là hơn 50.000 DN phá sản trong năm 2011 và 12.000 DN ngưng hoạt động trong quý 1 năm nay khi vốn tín dụng bị siết lại và LS quá cao. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là làm sao có vốn và vốn rẻ cho DN.



Nguồn vốn vay ngân hàng có vai trò sống còn với nhiều doanh nghiệp trong nước - Ảnh: D.Đ.M
Giải bài toán vốn cho doanh nghiệp
Không vay được cũng chết mà vay được cũng chết, đó là tình trạng của các DN do tín dụng bị siết chặt và LS quá cao hiện nay. Vì vậy, để giảm LS, theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân - Phó hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế TP.HCM, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, cần khống chế chênh lệch chi phí đầu vào - đầu ra và nhà nước cần xem LS là mặt hàng cần bình ổn giá. Đường đi của NH Nhà nước thời gian qua hoàn toàn đúng nhưng thị trường cần các bước đi nhanh hơn. Theo số liệu thống kê đến ngày 20.3, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,44% so với cuối năm 2011, tổng số dư huy động tăng 1,56%, còn tổng dư nợ tín dụng liên tục giảm 3 tháng liên tiếp và giảm 2,13% so với cuối năm 2011. Tín dụng giảm thì không có lý do gì giữ LS ở mức cao. Nếu xử lý nhanh các vấn đề như nợ xấu, thanh khoản..., LS huy động giảm được về 10%/năm, lúc đó LS cho vay về khoảng 14%/năm từ tháng 6 trở đi.

TS Lê Thẩm Dương - Trưởng khoa Quản trị doanh nghiệp Trường đại học NH TP.HCM lại cho rằng, ngoài việc giảm LS, nhà nước cũng nên có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp như giảm thuế, tạo ra các thị trường khác để giúp DN tìm kiếm nguồn vốn rẻ. Bản thân các DN cũng cần đa dạng nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh thay vì chỉ dựa vào nguồn vốn tín dụng từ NH như hiện nay. Phát hành cổ phiếu để huy động vốn trên thị trường chứng khoán cũng là một kênh phổ biến trong thời gian qua. Ngoài cổ phiếu, các DN hiện nay còn chưa quan tâm nhiều đến việc phát hành trái phiếu vì thời hạn dài. Do đó cần tạo một thị trường giao dịch trái phiếu DN để khi họ mua xong, cần bán thì có thể bán lại được cho người khác để khơi thông nguồn vốn này.


Thâm dụng vốn
Tiến sĩ Đinh Thế Hiển, chuyên gia tài chính tại TP.HCM phân tích, điểm yếu rất lớn của DN VN và toàn nền kinh tế là “thâm dụng vốn”. Thâm dụng thể hiện ở 2 góc độ, một là sử dụng vốn quá nhiều để tạo ra giá trị hàng hóa, hai là dựa vào vốn vay lớn, với mức vay bình quân có thể lên đến 60% - 70% tổng vốn kinh doanh.
Đối với các nước phát triển, ở đó thị trường vốn phát triển đầy đủ với các kênh huy động vốn đa dạng, uyển chuyển, thì khi DN gặp phải tình cảnh khó khăn từ nguồn vốn NH, họ có thể tiếp cận nhiều nguồn khác như trái phiếu, thuê - mua, tái thế chấp, M&A... của các định chế tài chính như NH đầu tư, công ty thuê mua tài chính, công ty mua - bán nợ, quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ đầu tư mạo hiểm... còn tại VN hiện nay NH thương mại vẫn là kênh chủ yếu cung ứng vốn cho DN. Do vậy các phương cách tái cấu trúc vốn cho DN VN bị hạn chế rất nhiều, khiến DN Việt Nam cần phải nỗ lực rất lớn trong giai đoạn khó khăn vốn hiện nay.
Chí Nhân

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Doanh nghiệp nhà nước: “Hư không sợ bị đòn!”

http://www.tinkinhte.com/viet-nam/phong-van-yeu-nhan/doanh-nghiep-nha-nuoc-hu-khong-so-bi-don.nd5-dt.151471.113209.html



Cùng với đúc kết của TS. Nguyễn Đình Cung về doanh nghiệp nhà nước “lời ăn, lỗ dân chịu”, khá nhiều nhận xét mang tính đúc rút tiếp tục được dành cho doanh nghiệp nhà nước, tại một diễn đàn về kinh tế vĩ mô đang diễn ra tại Đà Nẵng.

Báo cáo mở đầu tại phiên thứ hai về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, Viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung khi nói về đặc quyền và lợi thế của các doanh nghiệp này đã phát triển thêm nhận xét của chính mình. Là, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước “lời ăn, lỗ cũng ăn và dân chịu”.

Được mời phản biện tham luận của TS. Cung, TS. Vũ Đình Ánh nhắc lại 5 đặc quyền đặc lợi hay “lợi thế tuyệt đối” điển hình của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đã được ông Cung khái quát. Đó là không sợ phá sản cho dù thua lỗ kéo dài, hay là “khó có người giúp”; biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, hay là “quyền biến thành tiền”; tận dụng cơ chế xin - cho, hay là “xin có người cho”; ưu đãi tiếp cận vốn tín dụng, hay là “vay không lo trả”; ít bị kiểm tra giám sát, hay là “hư không sợ bị đòn”!

Một số đặc quyền đặc lợi của doanh nghiêp nhà nước, nhất là của tập đoàn, tổng công ty  nhà nước, theo ông Ánh cần được phân tích kỹ hơn như quyền định giá đối với hàng hoá dịch vụ quan trọng (xăng dầu, điện, nước...), quyền “lời ăn, lỗ nhà nước chịu”, quyền tiếp cận đất đai giá “rẻ bất ngờ”, quyền ghi thu ghi chi, nợ thuế, xin bổ sung vốn sau khi làm mất vốn do thua lỗ, quyền “mua đắt bán rẻ” máy móc thiết bị, quyền có thu nhập cao vượt nhiều lần quy định của Nhà nước bất chấp hiệu quả kinh doanh, quyền bổ nhiệm cán bộ không căn cứ vào khả năng trình độ quản lý kinh doanh...

Ông Ánh còn đặc biệt nhấn mạnh việc ôm đồm trong quản lý tập đoàn, tổng công ty, phân cấp quản lý vượt quá khả năng quản lý trong khi không gắn quyền lợi với trách nhiệm, tạo ra tình trạng vừa chồng chéo vừa bỏ trống và “quyền lực ảo” trong quản lý doanh nghiệp nhà nước.

Tạm dừng khi thời gian làm việc buổi chiều ngày 8/4 đã hết, song phiên thảo luận cũng đã ghi nhận khá nhiều ý kiến "phê" doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, quan điểm được khá nhiều ý kiến đồng thuận là cần tư duy lại vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề này VnEconomy xin được đề cập sâu hơn ở một bài viết sau.

Đầu giờ ngày thứ hai của diễn đàn, phiên thảo luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục sôi nổi với điểm nhấn là phát biểu của "người trong cuộc", Chủ tịch Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, đại biểu Quốc hội Trần Xuân Hòa.

"Xin phát biểu nhưng hơi lo lắng với cương vị bệnh nhân và tội đồ, có gì không phải mong xá tội", ông Hòa nói.

Nhấn mạnh là không bảo vệ cho tập đoàn, ông Hòa tỏ thái độ ngạc nhiên khi thấy nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nhà nước có lợi thế trong việc tiếp cận tài nguyên, đất đai.

Dẫn chứng "phản biện" được ông Hòa đưa ra là mặc dù từ 2008 Thủ tướng Chính phủ đã hai lần có văn bản giao cho tập đoàn chủ trì phát triển công nghiệp titan Việt Nam với 1.500km2 ở  Ninh Thuận, Bình Thuận và bắc Bà Rịa - Vũng Tàu, tập đoàn đã cử không biết bao nhiêu đoàn đi nước ngoài, đối tác muốn cho xem mẫu titan nhưng đến nay vẫn chưa có giấy phép nào, chưa có m2 titan nào, trong khi đó bộ chuyên ngành và địa phương đã cấp hàng ngàn giấy phép về ti tan. Như vậy tập đoàn nhà nước lợi thế thế nào?

Tập đoàn muốn có đất làm văn phòng nhiều khi phải thuê qua tư nhân, ông Hòa nói thêm.

Vị đại diện doanh nghiệp nhà nước duy nhất đăng đàn tại diễn đàn cũng không quên nhấn mạnh rằng "năm nay là năm cực kỳ khó khăn của doanh nghiệp". Ngân hàng đã nói hạ lãi suất nhưng tập đoàn vẫn phải vay đến 18,5% còn nhiều doanh nghiệp khác vẫn trên 20%. Mức đó thì không có doanh nghiệp nào chịu nổi.

Nhiều doanh nghiệp trong các tập đoàn được thông báo thuế sử dụng đất tăng gấp hơn 10 lần, như vậy doanh nghiệp đang khó khăn lại thêm "quả đấm tạ", ông Hòa nói thêm.

Chủ tịch TKV cũng cho biết đã đề đạt với Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu được tổ chức hội thảo tại Quảng Ninh (nơi tập đoàn có trụ sở chính), để sau khi các đại biểu xuống hầm lò và lên lộ thiên sẽ cùng nhau trao đổi.

"4-5 năm nữa phải nhập khẩu than, mà một số diễn giả tại hội thảo này vẫn đề nghị không tăng giá, trong khi năm ngoái ngành than bù cho bên điện hơn 5.000 tỷ đồng, và so với giá xuất khẩu là chênh 1 tỷ USD. Nếu không có giá xuất khẩu thì không thể nào đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, ngành than lấy tiền đâu mà đầu tư", Chủ tịch Hòa phát biểu và nhắc lại nguyện vọng "rất muốn có hội thảo ở quảng Ninh".

Không còn thời gian để "tranh luận" với Chủ tịch Hòa, song bên lề hội thảo, có chuyên gia kinh tế đã bình luận rằng, chỉ riêng việc được Chính phủ trao quyền phát triển công nghiệp titan cũng đã là lợi thế rất lớn của TKV.

Sẽ cố gắng thu xếp buổi làm việc tại TKV trước kỳ họp Quốc hội thứ ba vào tháng 5 tới đây, Chủ nhiệm Giàu "hứa" với Chủ tịch Hòa. Đồng thời, kết thúc phiên thảo luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước vì lý do thời gian, dù vẫn còn khá nhiều đại biểu muốn đăng đàn.

(Theo Vneconomy)

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

Kinh doanh vàng: Đã có lối để đi

http://cafef.vn/20120405024646342CA34/kinh-doanh-vang-da-co-loi-de-di.chn

Hoạt động mua bán vàng miếng, sản xuất vàng nữ trang là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Kinh doanh vàng tài khoản là hoạt động kinh doanh bị hạn chế.
Ngày 03/04, Thủ tướng đã ký quyết định ban hành Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Từ đây mọi hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng miếng, vàng trang sức; xuất nhập khẩu vàng và cả hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản, hoạt động phái sinh về vàng đều đã có hành lang pháp lý cụ thể.

Vàng tài khoản là hoạt động kinh doanh hạn chế

Từ khi Nghị định quản lý kinh doanh vàng mới chỉ là dự thảo đã có nhiều ý kiến đóng góp, đề nghị quản lý hoạt động kinh doanh vàng qua tài khoản. Điều này xuất phát từ thực tế có nhiều người là các nhà đầu tư vàng, thông qua các công ty vàng vẫn kinh doanh vàng tài khoản hàng ngày mà chưa có hành lang pháp lý cụ thể. 

Nếu đọc qua có thể thấy nghị định quản lý kinh doanh vàng dường như bỏ qua việc quản lý kinh doanh vàng tài khoản, nhưng thực sự không phải vậy. Các quy định quản lý hình thức kinh doanh vàng truyền thống như mua bán, sản xuất vàng miếng, vàng trang sức được nêu cụ thể tại từng chương còn kinh doanh vàng tài khoản được nêu tại 2 điều. 

Thứ nhất, tại điểm 9, điều 4, Chương  I quy định chung nêu rõ: “Các hoạt động kinh doanh vàng khác, trừ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng, hoạt động mua, bán vàng nguyên liệu trong nước của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và doanh nghiệp kinh doanh, mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ và các hoạt động quy định tại Khoản 6,7,8 Điều này, là hoạt động kinh doanh thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế. Tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và Ngân hàng Nhà nước cấp giấp phép”.

Thứ hai là tại điểm đ, khoản 4, điều 16 nhấn mạnh một lần nữa về trách nhiệm của NHNN sẽ là cơ quan cấp phép cho hoạt động kinh doanh vàng khác khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
Như vậy rõ ràng kinh doanh vàng qua tài khoản được xếp vào hoạt động kinh doanh hạn chế và chỉ được thực hiện khi được cơ quan quản lý cấp phép.

Một lãnh đạo NHNN chia sẻ: Hoạt động kinh doanh vàng tài khoản hiện nay có nhiều rủi ro cho nhà đầu tư cũng như thất thoát ngoại tệ do vậy thời điểm hiện tại NHNN muốn hạn chế hoạt động loại hình kinh doanh này.

Không được kinh doanh vàng miếng qua đại lý ủy nhiệm

Không khác so với dự thảo đã đưa ra từ trước, quyền sở hữu vàng hợp pháp của người dân và tổ chức được công nhận và bảo vệ theo quy định pháp luật, và giao dịch vàng miếng được quy về một mối là các TCTD và doanh nghiệp được NHNN cấp phép . 

Nếu muốn hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng, doanh nghiệp phải có vốn điều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng, có ít nhất 2 năm kinh nghiệm kinh doanh vàng, nộp thuế kinh doanh vàng 500 triệu đồng trở lên trong 2 năm gần nhất và có mạng lưới chi nhánh bán hàng tại ít nhất 3  tình, thành phố trực thuộc trung ương. 

Bằng những điều kiện này, NHNN giảm số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện mua bán vàng miếng xuống chỉ còn vài doanh nghiệp.
 
Với quan điểm quản lý kinh doanh vàng miếng với tính chất tiền tệ, hạn chế biến động bất thường gây bất ổn cho thị trường, Nghị định quy định rõ là các doanh nghiệp hay TCTD không được hiện kinh doanh vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm.

Có lẽ điều này là rút kinh nghiệm từ quản lý thị trường ngoại hối thời gian trước, khi mà các đại lý ủy nhiệm của các TCTD lợi dụng vị thế là điểm thu đổi ngoại tệ cho ngân hàng đã tạo ra cơn sốt “nóng, lạnh” về tỷ giá.

NHNN có trách nhiệm mua bán vàng miếng trong nước và tổ chức huy động theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Đối với hoạt động kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ được xếp vào hoạt động kinh doanh có điều kiện không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên NHNN vẫn sẽ quản lý hoạt động kinh doanh này thông qua thực hiện kiểm tra, thanh tra. 

Kết kim: Phía trước là vực thẳm

https://dudoankinhte.wordpress.com/2012/04/07/ket-kim-phia-truoc-la-vuc-tham/


 Nghị định 24 được công bố ngày 3-4-2012 đã chính thức cấm việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. Tác động của nghị định này phải nói là cực kỳ LỚN. Bài viết này của chúng tôi sẽ phân tích vai trò quan trọng của vàng trong nền kinh tế Việt Nam cũng như hệ lụy liên đới sâu xa của nghị định 24 này.
Vàng không chỉ để đầu cơ
Bấy lâu nay, giới báo chí Việt Nam thường xuyên mô tả hiện trạng giá vàng lên xuống thất thường như một điều không hay và đòi hỏi thúc đẩy chính phủ quản lý thị trường vàng mạnh mẽ hơn. Họ quên mất vàng còn có 1 vai trò quan trọng nhất ở Việt Nam như một phương tiện thanh toán song song với tiền đồng.

Căn nguyên của việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán là do chính sách điều hành kinh tế kém của chính phủ Việt Nam, có lúc gây lạm phát tới 800% trong thập niên 1980 của thế kỷ 20. Đồng tiền mất giá từng ngày, giá cả có khi thay đổi theo giờ đã khiến người dân chọn một phương tiện thanh toán khác ổn định, giữ giá trong dài hạn là vàng hay USD.

Đồng thời ngoài chức năng là phương tiện thanh toán, vàng còn là nơi tránh bão kinh tế tài chính, suy thoái kinh tế hữu hiệu cho người dân. Liên hệ điều này với thực tế, ta thấy rõ qua biểu đồ giá vàng sau đây:

 

Nhìn trên biểu đồ ta thấy rõ giá vàng tăng cực kỳ cao trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu. Thế nhưng giai đoạn kể từ 2010 trở về sau giá vàng còn tăng khủng khiếp hơn nữa, đã có lúc lên tới 49 triệu đồng/lượng.

Khi kinh tế kém phát triển, người dân sẽ quay ra phòng thủ tài chính bằng cách mua vào vàng còn khi kinh tế phát triển, họ sẽ đổi vàng ra tiền tự đầu tư vào phát triển, sản xuất, làm ra của cải cho xã hội. Đấy là quy luật tự nhiên của nền kinh tế thị trường.

Bằng cách kết kim (cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán), chính phủ Việt Nam đã thủ tiêu đi giá trị của vàng miếng, độc quyền kiểm soát, áp giá vàng duy ý chí, trái quy luật thị trường để có lợi trong việc HUY ĐỘNG VÀNG sắp tới của họ.

Kinh tế sẽ tiếp tục co rút nghiêm trọng
Điểm lại tình hình kinh tế trong nước, ai trong chúng ta cũng thấy rõ tình trạng đình lạm (lạm phát + đình đốn sản xuất) nghiêm trọng tới mức nào. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch đầu tư thì chỉ trong quý I đã có 12.000 doanh nghiệp phá sản nâng tổng số doanh nghiệp phá sản hoặc ngừng hoạt động từ năm 2011 lên con số 200.000, bằng 1/3 tổng số doanh nghiệp tư nhân toàn quốc (Vef, 06/04/2012). Đặc biệt là sức mua đang sụt giảm cực kỳ nghiêm trọng, chỉ số hàng tồn kho tăng vọt lên tới 34,9% (VnEconomy, 03/04/2012).
Vậy cấm sử dụng vàng làm phương tiện trao đổi có giúp nền kinh tế khởi sắc không? Câu trả lời là KHÔNG.

Tôi xin lấy 1 ví dụ đơn giản cho các bạn dễ hiểu về vai trò phương tiện thanh toán của vàng tại Việt Nam.
Anh A cho anh B vay nóng 1 cây vàng, cuối tháng trả 1 cây mốt. Nay vàng bị cấm sử dụng làm phương tiện thanh toán thì rõ ràng có một mối nguy lớn là bên cho vay không thể thưa kiện nếu bên mượn quỵt tiền. Mà ở Việt Nam có vô số người làm ăn sử dụng vàng là phương tiện thanh toán như anh A và anh B trên.
Khi trước còn tờ giấy viết tay, nay không còn, do không có giá trị với nghị định mới này, thì phải dùng LÒNG TIN.

Khi trước, cho vay nóng, thì “1 cây lấy cây mốt, sau 1 tháng”. Nay sẽ phải tăng lên, do nguy hiểm cao hơn.
Lãi suất cho vay cao, thì bên đi vay phải (1) có lời nhiều hơn, hoặc (2) không làm.

Họ (1) làm, thì giá hàng hóa phải bán tăng cao, hoặc (2) không làm thì KT sa sút, lại thêm doanh nghiệp đóng cửa, sa thải công nhân.

Nếu bị bắt quá, người ta cho vay bằng VND, thì tiền lời lại càng cao. Từ đó giá hàng hóa càng tăng, bán không được thì dẹp tiệm, lại thêm thất nghiệp.

Việc này sẽ gây ra LẠM PHÁT rất lớn, do nay mấy trăm tấn vàng trong dân chúng đang làm nhiệm vụ của TIỀN MẶT.

Nếu không cho giao dịch bằng vàng, nguời ta sẽ phải giao dịch bằng VND, thì khi đó PHẢI IN RA mấy trăm ngàn ti đồng thế vào số vàng bị rút ra khỏi thị trường.

LẠM PHÁT đang làm dân chúng không có tiền ăn cơm, nhiều sinh viên còn không có nổi 1 gói mì tôm (nói cho oai, làm gì có “tôm” trong đó) lên giảng đường. Công nhân đang đói meo, run rẩy, không làm việc nổi (Vef, 13/03/2012).

Vào lúc này mà rút vàng ra, trám VND vào, thì chuẩn bị LẠM PHÁT tăng mấy chục % ngay sau khi Nghị định này có hiệu lực.

Hiếm tiền mặt sẽ xảy ra trong vài tuần, mà nếu CP VN tung ra thì lại gây lạm phát, mà không tung ra thì lãi suất tăng cao lại cũng gây lạm phát.

KT VN sẽ càng co cụm, lạm phát càng tăng cao, trong các tháng tới đây.

Tương lai ảm đạm
Cả một tương lai ảm đạm của ngành kinh doanh vàng đang mở ra trước mắt. Chính Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không ngại nói thẳng mục tiêu của họ:

“…Bằng những điều kiện này, NHNN giảm số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện mua bán vàng miếng xuống chỉ còn vài doanh nghiệp…”

Kinh doanh vàng: Đã có lối để đi | Tài chính – Ngân hàng | Cafef
Ngoài ra, còn “Không được kinh doanh vàng miếng qua đại lý ủy nhiệm”, tức là chỉ có tiệm, ví dụ, như của chính Bảo tín Minh châu được mở ra mua bán vàng lá mà thôi, chứ không thể theo kiểu “hợp doanh”, “liên doanh” như trước.

Hồi trước, có nơi tuy là bán vàng SJC, BTMC, v.v… nhưng đó là các nơi lấy hàng về bán.
Nay phải do chính các cty lớn này làm chủ. Các cty không thuộc SJC sau này sẽ chỉ như là đại lý cho SJC mà thôi.

Còn “tiệm vàng” thì dẹp hết, hơn chục ngàn tiệm lớn nhỏ toàn quốc.

Sắp tới, các nơi này chỉ bán vàng của SJC mà thôi, vì thương hiệu này nay là “chính thức”. Các hiệu khác sẽ phải nấu ra đóng hiệu SJC, bằng không thì là loại “bất hợp pháp”.

Như vậy, sẽ chẳng còn cạnh tranh gì nữa, vì cho dù nói là còn “vài doanh nghiệp” nhưng cũng như chỉ còn NHNN độc quyền mua bán, dập vàng ra, xuất nhập khẩu. Tha hồ ra giá mua bán, số lượng, v.v…
Và dân mua vào, chỉ có thể ra đó bán, chứ bán bên ngoài là “phạm pháp”.

Bước kế tiếp có thể là cho ra “chứng chỉ vàng”, tức là ra đó bán vàng thì được, còn mua thì chỉ nhận tờ giấy “chứng nhận mua vàng” mà thôi.

Cũng như 1 loại “vàng ảo” vậy, như các bạn đánh vàng tài khoản, tuy nói có là trăm cây, ngàn cây, nhưng chỉ là ảo.

Tờ giấy “chứng chỉ vàng” cũng như là bản in “tài sản” các bạn trên sàn vàng ảo vậy thôi.
Coi như sau mấy ngàn năm cất vàng làm của, nay dân VN không còn có thể như vậy!
—————————————

Cafef, Kinh doanh vàng: Đã có lối để đi, 05/04/2012, http://cafef.vn/20120405024646342CA34/kinh-doanh-vang-da-co-loi-de-di.chn

Vef, 3 bệnh hiểm nghèo khiến DN ‘tử vong’ nhanh, 06/04/2012, http://vef.vn/2012-04-04-3-benh-hiem-ngheo-khien-dn-tu-vong-nhanh

VnEconomy, Chỉ số tồn kho đang ở mức báo động, 03/04/2012, http://vneconomy.vn/2012040311231242P0C9920/chi-so-ton-kho-dang-o-muc-bao-dong.htm

Vef, Xót lòng khi cơm bụi tăng giá, 13/03/2012, http://vef.vn/2012-03-12-xot-long-khi-com-bui-tang-gia

Chính phủ Việt Nam, Nghị định số 24/2012/NĐ-CP, 03/04/2012, https://docs.google.com/file/d/0B2BS_DbGbflPdWtqXzNzbHBSaVdfUW9UU2lNNE9MUQ/edit

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Điện không lo thiếu vì doanh nghiệp "chết" nhiều

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=368381

Điểm sáng hiếm hoi trong bối cảnh kinh tế khó khăn là tình hình cung ứng điện ổn định. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia lo ngại, tình huống trở nên bi hài khi nhà đèn hứa đủ điện thì nhiều doanh nghiệp không còn sống để hưởng.

EVN hứa sẽ cung ứng đủ điện. Ảnh: Hoàng Hà
EVN hứa sẽ cung ứng đủ điện. Ảnh: Hoàng Hà

Tại phiên Họp báo thường kỳ của Chính phủ đầu tháng, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết riêng trong quý I/2012, đã có gần 12.000 doanh nghiệp làm thủ tục giải thể và ngừng hoạt động. Con số này tuy vẫn thấp hơn 15.300 doanh nghiệp thành lập song tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 4% cho thấy nền kinh tế đang trải qua một giai đoạn khó khăn, mặc dù các yếu tố vĩ mô đã có dấu hiệu ổn định, khởi sắc.
UBND TP HCM cho biết, trong quý I, có 5.012 doanh nghiệp gửi thông báo ngưng hoạt động đến Cục thuế thành phố, tăng 4,6 lần cùng kỳ 2011. Tình hình trở nên căng thẳng và ngày 3/4 vừa qua, UBND thành phố đã phải họp bàn tìm cách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Cùng với nỗi lo trên, nhiều bộ ngành đã lên tiếng cảnh báo về mức độ tăng trưởng thấp trong quý một. Bộ Kế hoạch Đầu tư thẳng thắn, ngành công nghiệp và xây dựng chỉ đạt tốc độ trưởng 2,94%, bằng 50% so với cùng kỳ năm trước. Còn Bộ Công Thương khẳng định, mặc dù tăng trưởng 3,2%, song ngành công nghiệp chế biến đang thuộc diện khó khăn nhất vì con số này thấp hơn nhiều so với 13,4% cùng kỳ. Trong số 32 nhóm hàng công nghiệp chế biến thì có đến 18 mặt hàng có chỉ số sản xuất giảm như xi măng, sắt thép, sản xuất sợi, bao bì, bột giấy...
Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết cũng cho thấy, khối xây dựng - bất động sản rất sa sút. Thủ Đức House lợi nhuận sau thuế năm 2011 chỉ còn 31 tỷ đồng, chưa bằng số lẻ 248 tỷ đồng của năm trước. Địa ốc Đất xanh, doanh thu đạt 75% so với năm 2010 và lợi nhuận cũng giảm mạnh chỉ bằng 42% so với năm 2010. Địa ốc Hoàng Quân, doanh thu đạt 216 tỷ đồng, trong khi đó năm 2010 con số này lên tới 1.325 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế chỉ còn 26 tỷ đồng, bằng 5% so với năm 2010. Góp mặt trong bức tranh ảm đạm còn có cả Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai với doanh thu năm 2011 bằng 51% và lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 48% so với năm 2010.
Một trong những điểm sáng hiếm hoi được các bộ ngành đánh giá là tình hình cung ứng điện quý I/2012 an toàn, ổn định. Sản lượng điện khai thác theo kế hoạch điều tiết để đảm bảo cấp đủ điện cho mùa khô. Trong 3 tháng đầu năm, điện sản xuất toàn ngành đạt gần 26.000 triệu kWh tăng 15,1% so với cùng kỳ. Điện thương phẩm ước đạt hơn 22.000 triệu kWh, tăng 9,9% so với cùng kỳ.
"Cấp điện từ đầu năm tới nay chắc là thoải mái", một lãnh đạo Bộ Kế hoạch Đầu tư nói vui như vậy tại cuộc họp giao ban tháng 3, khi các số liệu cho thấy sản lượng điện tăng mà tình hình sản xuất công nghiệp đình đốn.
Trong năm 2011, tổng lượng nước thiếu hụt của các hồ chứa thủy điện khoảng 13 tỷ m3, tương đương sản lượng điện thiếu hụt khoảng 3 tỷ kWh. Theo đánh giá của Bộ Công Thương, tình hình cung ứng điện gặp nhiều khó khăn. Do đó, Cục Điều tiết điện lực yêu cầu EVN xây dựng kế hoạch cung cấp, cắt giảm điện từ tháng 3.

Trái ngược với bối cảnh năm 2011, năm nay điện hứa cung ứng đủ trong bối cảnh hàng nghìn doanh nghiệp giải thể khiến người trong cuộc dở khóc, dở cười. Ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho hay, trong quý một năm nay, tình trạng điện có vẻ khả quan hơn cùng kỳ, ngoại trừ một số nơi bị mất điện cục bộ thì "nhìn chung là ổn". Năm ngoái, doanh nghiệp sống dở chết dở vì thường xuyên bị cúp điện. Chỉ cần vài phút bị mất điện khi đang nung lò cao thì doanh nghiệp đã mất cả tỷ đồng. Do đó, mặc dù lượng tiêu thụ giảm mạnh trong quý một và ngành thép gặp muôn vàn khó khăn, lãi suất vẫn ở mức 17-18%, giá phôi lên tới 650 USD mỗi tấn thì thông điệp của nhà đèn phần nào an ủi được doanh nghiệp.

"Mặc dù nhà đèn có những tiến bộ nhất định, song không thể phủ nhận một trong những lý do khiến EVN không lo thiếu điện trong năm nay là nhiều doanh nghiệp đóng cửa, giải thể", ông Nghi thẳng thắn.
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa VN Cao Sĩ Kiêm chia sẻ, trong bối cảnh khó khăn, doanh nghiệp co cụm sản xuất tiêu hao năng lượng ít đi là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, không như các ngành khác, sản lượng điện sản xuất ra không dùng hết sẽ không thể "để trong kho". "EVN sẽ thảnh thơi vì tiêu thụ điện trong sản xuất ít. Nhưng nếu kinh tế khó khăn, sức tiêu thụ điện quá ít quá thì ngành điện lại rất gay go", ông Kiêm nói.
Theo ông Kiêm, câu chuyện sẽ trở nên bi hài vì doanh nghiệp rơi vào vòng luẩn quẩn.
 
Doanh nghiệp ăn nên làm ra thì luôn bị cúp điện, và khi điện cung ứng đủ thì họ lại không còn tồn tại để hưởng.
Không bình luận về việc nhiều doanh nghiệp đóng cửa nên nhà đèn sẽ dễ thở hơn trong việc cung ứng điện vì sợ "đụng chạm và không hay", song lãnh đạo của EVN cam kết, tình hình cưng ứng điện ổn định, không thiếu. Thủy điện Sơn La đã hoạt động 4 tổ máy, dự kiến tháng 5, tháng 8 sẽ lần lượt đưa hai tổ máy 5 và 6. Nhiều nhà máy nhiệt điện than cũng sẽ chạy nên nếu không có gì biến động, điện sẽ đủ. "Ngành điện sợ nói trước bước không qua. Vì thời tiết thay đổi thất thường, nay nắng, mai mưa nên không dám hứa. Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để đảm bảo cung ứng đủ điện cho người dân", lãnh đạo EVN thẳng thắn.
Trao đổi với Báo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Nam Hải cho rằng, chuyện 12.000 doanh nghiệp buộc phải ngừng hoạt động và giải thể là hoàn cảnh khách quan. Bộ Công Thương luôn mong muốn sản xuất kinh doanh của đất nước đi lên, kinh tế thế giới vượt qua khủng hoảng. Còn chuyện doanh nghiệp giải thể nên tiêu dùng năng lượng ít đi thì "chẳng thể trách ai". "Tôi tin rằng EVN sẽ hết sức cố gắng để những năm sau, sản xuất kinh doanh đi lên thì có thể đáp ứng đủ điện", ông Hải chia sẻ.
Cũng theo Thứ trưởng Hải, Bộ Công Thương vẫn đang tìm cách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. "Cần phải bình tĩnh vì bên cạnh doanh nghiệp khó khăn về vốn, giải thể thì có một lượng doanh nghiệp đăng ký mới cũng khá lớn", ông Hải nói.

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng

http://hn.24h.com.vn/tin-gia-vang/vn-lai-lot-top-10-nuoc-ngon-vang-c424a438342.html

Theo báo cáo thường niên vừa công bố của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), trong năm 2011, nhu cầu vàng toàn cầu tăng cao kỷ lục trong vòng 14 năm với hơn 4.000 tấn, trị giá khoảng 206 tỷ USD.

Đây là năm đầu tiên nhu cầu vàng của thế giới vượt mức 200 tỷ USD. Trong đó, nhu cầu đầu tư vàng của thế giới tăng gần 5% so với năm 2010, đạt mức kỷ lục 1.640,7 tấn.
Sức mua vàng tại thị trường Ấn Độ và Trung Quốc chiếm tới 49 % nhu cầu thế giới và 55% nhu cầu trang sức toàn cầu.
Năm 2011, giá vàng thế giới lập kỷ lục ở mức 1.920,3 USD/oz, đồng thời cũng có lúc chỉ ở mức 1.300 USD/oz. Vì thế, năm qua được xem là một trong những năm chứng kiến giá vàng biến động mạnh nhất trong lịch sử.
Dưới đây là danh sách 10 quốc gia có sức mua vàng lớn nhất thế giới trong năm 2011 theo WGC:

10. Arab Saudi
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 72,2 tấn
Tăng trưởng: -12%
Do giá vàng cao và không ổn định, tổng nhu cầu vàng của Arab Saudi giảm 12% so với năm 2010 từ mức 82,1 tấn xuống còn 72,2 tấn, chiếm 36% nhu cầu toàn khu vực Trung Đông. Trong đó, nhu cầu về trang sức của nước này cũng giảm 17% so với năm trước, chỉ còn 55,8 tấn.

9. Nga
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 75,1 tấn
Tăng trưởng: 14 %
Xu hướng tiêu thụ vàng của Nga ngày càng tăng mạnh, mặc cho giá vàng thế giới tăng cao. Nhu cầu vàng của xứ sở bạch dương tăng 14 % từ 66 tấn lên 71,5 tấn. Đồng thời, Nga cũng là nước sản xuất vàng lớn thứ 4 thế giới trong năm 2011, với sản lượng 200 tấn.

8. Việt Nam:
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 100,3 tấn
Tăng trưởng: 23%
Nhiều nước châu Á có nhu cầu tiêu thụ đồ trang sức vàng ít hơn trong năm 2011 vì người tiêu dùng thất vọng với giá vàng tăng vọt. Nhưng nhu cầu mua vàng của Việt Nam vẫn tăng gần 1/4 so với năm 2010, từ 81,4 tấn lên mức 100,3 tấn. Trong năm 2011, Việt Nam cũng xuất khẩu khoảng 35 - 38 tấn vàng.
Đây là năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam giữ vị trí này.

7. Thái Lan

VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 108,9 tấn
Tăng trưởng: 57%
Mức tiêu thụ vàng tăng trưởng đột biến đã đưa Thái Lan giữ vị trí thứ 7 trong danh mục 10 nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới. Trong văn hóa người Thái thì vàng là biểu trưng cho sự giàu có, thịnh vượng.

6. Thụy Sĩ
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 116,2 tấn
Tăng trưởng: 25%
Do cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực thúc đẩy các nhà đầu tư ở đây tìm đến kim loại này như một “vịnh tránh bão” nên nhu càu vàng ở các quốc gia châu Âu tăng cao. Sự tăng trưởng nhu cầu này tập trung chủ yếu ở hai quốc gia là Đức và Thụy Sĩ.
Đất nước “đồng hồ” này đã mua 116,2 tấn vàng trong năm 2011, nhiều hơn năm 2010 là 23,5 tấn.

5. Thổ Nhĩ Kỳ
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 144,2 tấn
Tăng trưởng: 30%
Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là nước mua vàng lớn thứ 5 thế giới trong năm 2011. Giá vàng tăng kỷ lục đã thực sự tác động lên thị trường. Các nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ coi thứ kim loại màu quý giá này là phương thức đầu tư an toàn nhất vào thời điểm hiện tại. Nhu cầu mua đầu tư vàng tăng tới 99%, trong khi nhu cầu mua trang sức lại giảm 10%.

4. Đức
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 159,3 tấn
Tăng trưởng: 26%
Đức là một trong hai quốc gia có sức tiêu thụ vàng lớn nhất châu Âu. Nhu cầu mua vàng của người Đức tăng từ 126,9 tấn (năm 2010) lên 159,3 tấn (năm 2011).

3. Mỹ

VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 194,9 tấn
Tăng trưởng: -17%
Mỹ là quốc gia tiêu dùng vàng nhiều thứ 3 thế giới trong năm 2010. Tuy nhiên, nhu cầu vàng trang sức, vàng thỏi và vàng đồng xu đã giảm đáng kể, khoảng 17% so với năm 2010. Nhu cầu vàng của Mỹ liên tục giảm trong những năm gần đây là do cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước kéo dài.

2. Trung Quốc
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 811,2 tấn
Tăng trưởng: 22%
Là nước tiêu thụ vàng lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc chứng kiến nhu cầu vàng tăng 20% trong năm qua, lên mức 769,8 tấn. Trong đó, nhu cầu vàng thỏi và xu vàng cho mục đích đầu tư tăng 38%, đạt 258,9 tấn; nhu cầu vàng nữ trang tăng 13%, đạt 510,9 tấn.
Đặc biệt, nhu cầu vàng nữ trang của Trung Quốc tăng trong mọi quý của năm 2011. Trong quý 2, nước này đã trở thành thị trường vàng nữ trang lớn nhất thế giới.
Trong quý 4/2011, tổng nhu cầu vàng của Trung Quốc là 190,9 tấn, so với mức 173 tấn của Ấn Độ, đưa nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới trở thành thị trường tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới trong quý.
Theo các chuyên gia của WGC, với đà này, Trung Quốc sẽ vượt Ấn Độ để trở thành thị trường vàng lớn nhất thế giới trong năm 2012 hoặc 2013.

1. Ấn Độ
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 933,4 tấn
Tăng trưởng: -7%
Ấn Độ vẫn là nước tiêu thụ nhiều vàng nhất trong năm 2011, bất chấp sự suy yếu của đồng Rupee của nước này. Ấn Độ chỉ sản xuất khoảng 4 tấn vàng mỗi năm, con số này bằng 0,4% lượng tiêu thụ vàng của nước này.
Người dân Ấn Độ tiêu thụ tổng cộng hơn 933 tấn vàng trong năm qua, giảm 7% so với năm 2010. Trong đó, nhu cầu mua vàng trang sức giảm 14%, khoảng 567,4 tấn. Nhu cầu mua vàng đầu tư 5%, lên mức 366 tấn.