http://caunhattan.net/2012/10/05/su-that-bai-cua-mo-hinh-tap-doan-kinh-te/
TS Nguyễn Quang A
– Giải pháp cho các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước là chúng phải thuộc
quyền quản lý của một Công ty quản lý tài sản quốc gia, thực hiện quản
lý DNNN như một ông chủ tư nhân, Công ty này hoạt động theo một luật
riêng do QH đưa ra, có trách nhiệm giải trình trước CP, trước QH và quan
trọng nhất là trước công chúng. TS Nguyễn Quang A trao đổi với Lao động
xung quanh việc 2 Tập đoàn VNIC và HUD kết thúc mô hình tập đoàn.
PV: Tập đoàn Công nghiệp xây dựng
Việt Nam (VNIC) và Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam (HUD)đã
kết thúc hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế. Thưa TS, đây là một
biểu hiện cho thấy sự thất bại của mô hình tập đoàn kinh tế? Hay đây là
vấn đề quản lý tập đoàn?
TS Nguyễn Quang A: Đây là thất bại của
mô hình tập đoàn (TĐKT), nói trắng ra là sự thất bại mô hình Thủ tướng
chủ quản, để trở lại mô hình Bộ chủ quản dù cả 2 cơ chế đều dở cả. Từ
năm 2006, tôi đã có ý kiến đặt vấn đề sự hợp pháp hay không của mô hình,
và dự đoán thế nào mô hình này cũng thất bại. Tất nhiên, sự thất bại
của HUD và VNIC có nguyên nhân từ việc quản lý, nguyên nhân này cũng lớn
nhưng không phải là nguyên nhân chính.
PV: Thiếu sự cạnh tranh phải chăng
là nguyên nhân chính cho sự thất bại của VNIC, của HUD nói riêng và mô
hình DNNN nói chung, thưa TS?
TS Nguyễn Quang A: Tập đoàn là việc học
tập theo kiểu sao chép các mô hình TĐKT từ những năm 60 thế kỷ trước của
Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, điều khác biệt cơ bản là TĐKT Nhật,
Hàn đều là những công ty tư nhân phải cạnh tranh. Yếu tố tư nhân khiến
các TĐKT Nhật, Hàn có động lực về lợi nhuận, động lực phát triển rất
lành mạnh. Và điều quan trọng là chúng phải cạnh tranh, cả trong và
ngoài nước. TĐKT Việt Nam thì không những không phải cạnh tranh mà còn
“được” ràng buộc bởi ngân sách mềm. Thiếu vốn thì được cấp vốn. Nợ nần
thì được khoanh, giãn nợ. Thua lỗ thì được “tái cơ cấu”. Sai thì được
sửa. Điều này tạo cho TĐKT tư tưởng, suy nghĩ luôn có thể nhờ vả. Nói
hình tượng, nó giống với đứa con hư của một nhà trọc phú.
Về lý thuyết, DN sẽ không hiệu quả khi
không phải cạnh tranh và có ràng buộc ngân sách mềm. Lý thuyết này người
ta đã viết thành sách từ 50 năm nay và cũng được kiểm chứng cả nửa thế
kỷ rồi.
Tất nhiên, ngay cả khi có cạnh tranh
lành lạnh, bị ràng buộc ngân sách cứng thì cũng chưa đủ cho đảm bảo cho
DNNN hoạt động hiệu quả. Chúng vẫn có thể thất bại vì nếu vấn đề quản lý
kém. Nếu DN không những ít bị áp lực cạnh tranh, có ràng buộc ngân sách
mềm và cùng với quản lý kém thì thất bại là dễ hiểu (có DNNN phải cạnh
tranh và có ràng buộc ngân sách cứng có thể hoạt động hiệu quả, thí dụ
điện thoại di động).
Về mặt thực tế, từ 10-15 năm trước người
ta phản đối mạnh cơ chế bộ chủ quản, Bộ vừa là chủ sở hữu, vừa quản lý
ngành dọc. Đây là cơ chế không hay vì tất cả quan chức đi làm kinh tế
trong khi động lực của họ là động lực chính trị chứ không phải động lực
kinh tế. Bộ chủ quản tức cơ quan hành pháp lại đi làm kinh tế, nên hỏng
từ gốc. Nhưng thà để TĐKT chuyển về mô hình bộ chủ quản, vì dẫu sao
chúng còn chịu sự quản lý của Bộ, hơn là mô hình TĐKT khi chức năng giám
sát kiểm tra quản lý của các Bộ khác bị vô hiệu hóa.
PV: Thưa TS, vấn đề tái cơ cấu DNNN
đang được bàn thảo tại Hội nghị TƯ 6, DNNN cần quản lý thế nào để chúng
thực sự mang lại hiệu quả?
TS Nguyễn Quang A: Muốn giải quyết cần
có một Công ty quản lý tài sản quốc gia, thực hiện quản lý DNNN như một
ông chủ tư nhân, hoạt động theo một luật riêng do QH đưa ra, có trách
nhiệm giải trình trước CP, trước QH và quan trọng nhất là trước công
chúng. Tại sao nhà nước phải nắm các DN xây dựng, xi măng, dệt may? Theo
tôi, những gì Nhà nước không cần phải nắm thì cần tư nhân hóa một cách
triệt để. Bởi tư nhân hóa không có nghĩa là giao, mà là bán một cách
sòng phẳng cho tư nhân, đưa tiền vào kho bạc để NN trả nợ, đầu tư hạ
tầng, phát triển giáo dục, y tế. Những gì Nhà nước nắm thì cũng phải
buộc các DNNN thực hiện như DN tư nhân. Ông chủ làm đúng chức năng ông
chủ. Cơ bản nhất là cơ chế để DNNN phải cạnh tranh, thậm chí thôn tính
nhau, bởi chỉ có cạnh tranh mới có thể tạo ra động lực và phải buộc
chúng đối mặt với ràng buộc ngân sách cứng.
PV: Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính
phủ Phạm Viết Muôn hôm qua đã đánh giá: Việc thí điểm hình thành 2 tập
đoàn này “khi thực tiễn chưa đặt ra yêu cầu, đòi hỏi một mô hình tổ chức
như vậy”. Trong bối cảnh “Quan hệ sản xuất đi trước một bước nên việc
thí điểm 2 tập đoàn này không thành công? Vấn đề là tính thời điểm, thưa
ông?
TS Nguyễn Quang A: Đây là một cách nhìn
khó có thể thấy rõ được nguyên nhân thất bại của mô hình nói chung, chứ
không phải chỉ 2 TĐKT này. Việc phát triển thành TĐKT là quá trình phát
triển tự nhiên của DN, quá trình này phải gắn kèm với phát triển quy mô
và đào tạo nhân lực, chứ không thể Nhà nước muốn ép thế nào cũng được.
Muốn gọi là gì thì gọi, nhưng đó là việc của DN chứ không phải của Chính
phủ.
PV: Phát biểu trước QH, ĐBQH Lê Thị
Nga đánh giá: Ngay từ đầu chúng ta đã thí điểm mô hình TĐKT trên phạm vi
rất rộng, tập trung vào những lĩnh vực trọng yếu, xương sống của nền
kinh tế. Ngay cả khi Vinashin bắt đầu đổ vỡ, ngay cả khi chưa có tổng
kết thí điểm, lại có thêm 4 tập đoàn mới được thành lập. Phải chăng
Chính phủ đã quá nóng vội, thưa TS?
TS Nguyễn Quang A: Nếu xét thêm quan
điểm kinh tế- chính trị học điều này không khó lý giải. Chính phủ muốn
tạo ra các quả đấm, muốn nắm được nhiều quyền lực kinh tế càng tốt. Về
phía DN, họ cũng muốn thuộc quyền Thủ tướng để có tiếng nói, có nguồn
lực…Vấn đề đáng lẽ phải có sự kiềm chế, giám sát, kiểm soát và cân bằng
chứ không thể để quyền lực kinh tế tập trung như vậy. 13 TĐKT hiện nay
chiếm bao nhiêu nguồn lực quốc gia, bao nhiêu tín dụng, bao nhiêu đất
đai. Chắc ½ của DNNN rồi.
PV: Thưa TS, mô hình Ban KT TƯ đang được xúc tiến tài lập, liệu đây có phải là một kênh kiểm soát hữu hiệu?
TS Nguyễn Quang A: Đây là một mô hình
“đặc thù Việt Nam” dù trên thế giới, đảng nào cũng có bộ phận nghiên cứu
kinh tế. Theo tôi, nếu lập lại mô hình này và nó hoạt động tốt sẽ tạo
ra được một kênh kiểm tra, giám sát, và như thế sẽ tốt hơn là không có
nó. Nhưng nếu chỉ dừng ở mức độ là một Ban của Đảng, không có quyền kiểm
tra, giám sát, đề xuất thì việc thành lập cũng vô nghĩa.
Xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Quang A
Đào Tuấn (thực hiện)
http://anhbasam.wordpress.com/2012/10/05/1290-su-that-bai-cua-mo-hinh-tap-doan-kinh-te/
.
Con số thống kê Bộ Kế
hoạch Đầu tư Việt Nam vừa công bố cho thấy đầu tư nước ngoài trực
tiếp (FDI) vào nước này trong bảy tháng đầu năm chỉ ở mức 8,03 tỷ đô
la, bằng 66,9% so với cùng kì năm 2011.
Việt Nam đang lộ yếu kém về đầu tư, công nghệ và quản trị
Sự tụt hạng đầu tư của Việt Nam ở châu Á cùng thời gian cũng chứng minh môi trường kinh doanh nước này đang mất điểm trong mắt giới đầu tư, so với nước cùng khu vực như Indonesia, tăng từ vị trí 21 lên 9 một cách ngoạn mục.
Vậy giới quan sát đang cho rằng những lí do chính nào ngoài lí do 'suy thoái kinh tế toàn cầu' được 'ưa chuộng' của chính phủ Việt Nam khiến giới đầu tư nước ngoài trở nên ngán ngẩm việc đầu tư ở Việt Nam đến vậy?
Đăng kí nhiều, không sử dụng hết
Thông số FDI được đăng kí tại Việt Nam, thường chênh lệch xa với lượng FDI được chính thức đưa vào sử dụng vì tốc độ giải ngân yếu kém.Việc đưa vốn đầu tư vào chính thức sử dụng tại Việt Nam là một thử thách đối với tập đoàn nước ngoài (FIEs) vì các thủ tục giấy tờ cũng như các điều khoản qui định đầu tư rắc rối, không rõ ràng.
Các dự án lên đến hàng tỉ đôla thậm chí sau khi đã hoàn thành các thủ tục, vẫn phải đối mặt với công đoạn “khó nuốt nhất” của quy trình đầu tư: 'giải phóng mặt bằng', được quản lý bởi các chính quyền địa phương nghèo vốn.
Một ví dụ tiêu biểu trong thời gian gần đây nhất đó là dự án hợp tác đầu tư của tập đoàn thép Tata của Ấn Độ với Tập đoàn thép quốc gia Việt Nam.
"Doanh nghiệp Nhà Nước vẫn là nòng cốt của nền kinh tế trong chiến lược phát triển"
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Đây là lý do khiến phía Ấn Độ mất kiên nhẫn đến nỗi đích thân Thủ tướng Manmohan Singh phải “nhắc khéo” về dự án với Chủ tịch Trương Tấn Sang trong cuộc gặp năm 2011 tại New Dehi.
Kết quả là trong tháng 8, phía Việt Nam đã bắt Tata phải trích thêm một khoản 100 triệu đôla nữa để trả tiền giải phóng mặt bằng, gấp hơn ba lần so với 30 triệu đô la qui ước ban đầu, nhằm ‘thúc đẩy’ tiến trình dự án.
Lao động rẻ đã lỗi thời
Chủ tịch Trương Tấn Sang đã nhận được thông điệp từ Ấn Độ về vụ Tata đầu tư vào Hà Tĩnh
Kinh tế gia Raphael Cecchi của hãng phân tích đầu tư ONDD tại Bỉ nói trong một cuộc Bấm phỏng vấn với BBC rằng, một trong hai thế mạnh lớn nhất của Việt Nam đó là lực lượng lao động đông đảo với giá rẻ.
Tuy nhiên ngay cả ông và giới phân tích trên thế giới cũng thống nhất rằng, trước nhu cầu thị trường toàn cầu ngày càng tinh vi và thâm dụng vốn cũng như tốc độ tăng giá lao động trong nước nói riêng, thế mạnh này sẽ bị xói mòn rất nhanh.
Giới quan sát nói Việt Nam sẽ khó đón nhận những làn sóng FDI khổng lồ trong tương lai với đội ngũ lao động kém trình độ, chủ yếu bắt nguồn từ những bất cập trong nền giáo dục vốn thiếu sự tự do để cạnh tranh, chuyên môn hóa của nước này.
Một ví dụ cụ thể là vào năm 2011, Intel , hãng sản xuất chip điện tử hàng đầu của Mỹ, đã gặp trở ngại trong việc đầu tư vào Việt Nam khi số công nhân đủ trình độ tuyển dụng chỉ bằng một phần nhỏ số lượng yêu cầu.
Hãng Intel vào thời điểm đó đã gạt qua một bên lợi thế lao động giá rẻ của Việt Nam, tuyên bố rằng đó không phải là điều họ tìm kiếm.
Trong những năm trước, khi giá lao động Trung Quốc tăng nhanh, nhiều ý kiến đã cho rằng Việt Nam sẽ là điểm dừng chân tiếp theo của những nhà đầu tư muốn hướng về Châu Á.
Cho tới nay, Trung Quốc, với giá lao động tối thiểu cao hơn Việt Nam rất nhiều, vẫn là điểm dừng chân hàng đầu cho các tập đoàn công nghệ khổng lồ của thế giới như Samsung, Apple nhờ những nỗ lực nâng cao chất lượng lao động.
Họ đã đưa đội ngũ lao động cao cấp lên làm nòng cốt cho nền kinh tế trong lúc vẫn đảm bảo giá cả, chất lượng và năng suất sản xuất ở mức cạnh tranh so với thị trường lao động quốc tế từ rất sớm.
Điện cúp, đường tắc
Chính phủ Việt Nan quyết tâm duy trì vị trí ưu thế về chính sách cho doanh nghiệp nhà nước
Vấn đề cơ sở hạ tầng không được đầu tư đúng nơi, đúng lúc và đúng mức độ đang là vấn đề gây quan ngại với giới đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là khi vấn đề mất điện và giao thông đình trệ có những ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Nhiều năm qua, các doanh nghiệp đặt xưởng sản xuất tại Việt Nam liên tục kêu ca là 'chới với' vì không có điện để sản xuất, nhất là trong thời điểm mùa hè, dẫn đến thiệt hại về cả năng suất cũng như chi phí sản xuất.
Báo chí nêu như với Samsung, vụ mất điện 10 phút đã có thể biến các sản phẩm dang dở thành 'phế thải', gây tốn kém lên đến hàng chục triệu đô la.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thì liên tục lên tiếng than lỗ vì thiếu nước, chi phí mua điện ngoài tăng cao, cũng như các nguồn điện chậm tiến độ như một phần các lí do cho vấn đề bất cập năng lượng.
Trong khi đó, EVN vẫn đầu tư vào các ngành không liên quan như ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản.
'Ngại' doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp Nhà Nước (DNNN), bị coi là trở ngại lớn nhất với sự phát triển của khu vực tư doanh, vốn được cho là nòng cốt và tương lai của nền kinh tế Việt Nam, mà còn là lá chắn nguồn FDI từ bên ngoài suốt nhiều năm qua.Ngân hàng HSBC hôm 1/8 nói sai lầm lớn nhất của Việt Nam là tập trung 40% tổng sản lượng doanh thu quốc doanh (GDP) vào các tập đoàn nhà nước kém hiệu quả, tạo ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường nhưng lại đòi hỏi sự hỗ trợ khổng lồ để tiếp tục tồn tại.
Các doanh nghiệp này, bị các nhà đầu tư lên án là với số vốn lớn mạnh đã ra sức thao túng vị trí 'đầu tàu của ngành', chiếm thế độc quyền bằng cách mở rộng đa ngành để tạo khó khăn cho việc thâm nhập thị trường của các tập đoàn nước ngoài, ảnh hưởng đến mức FDI tiềm năng đổ vào Việt Nam những năm qua.
Trong cùng bài trên FP, Geoffrey Cain viết về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam: "Họ thật là một đám phiền toái, chẳng ai (nhà đầu tư nước ngoài) muốn dính vào họ."
Tuy nhiên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục khẳng định Doanh nghiệp Nhà Nước vẫn là nòng cốt của nền kinh tế trong chiến lược phát triển đất nước từ đây đến năm 2015.
"Họ thật là một đám phiền toái"
Geoffrey Cain
Lạm phát: nỗi ám ảnh kinh hoàng
Lạm phát trong năm 2012 đã giảm xuống mức đáng kể, thế nhưng những dư âm và hậu quả của mức lạm phát lên đến 23% của năm 2011 vẫn còn tồn đọng trong nền kinh tế hiện tại và tâm lí các nhà đầu tư.Một phần nguyên nhân cho tình trạng suy giảm lượng FDI trong năm 2012, đó là các biến động tâm lý của nhà đầu tư trong thời điểm một năm trước đó.
Trong bối cảnh lạm phát Việt Nam lên đến mức cao nhất Châu Á năm 2011, các khách hàng nước ngoài cũng như các công ty nước ngoài trở nên lãnh đạm hẳn với thị trường Việt Nam và tìm cách chuyển dần sang các nước lân cận trong suốt thời gian sau đó.
Nguyên nhân cho sự lãnh đạm đó là sự mất đi lợi thế cạnh tranh giá cả trong nước trước áp lực lạm phát khiến yêu cầu tăng lương của nhân viên, chi phí vật liệu, lãi suất cao ngất ngưởng và các ngân hàng đua nhau siết vốn.
Nguồn FDI vào ngành bất động sản trong cũng giảm xuống rõ rệt trước một thời gian dài chứng kiến sự sụp đổ của ngành này cùng những món nợ xấu còn tồn đọng ở thời điểm hiện tại.
Những tiến triển trong quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước lân cận đang mở ra những nguồn FDI tiềm năng mới.
Kinh tế gia Raphael Cecchni nhận đinh rằng, Việt Nam, trước nỗ lực giải quyết mức lạm phát đang phải hi sinh tăng trưởng thường niên và giá trị tiền đồng, vốn cũng là điều đang khiến các nhà đầu tư lo ngại rằng sẽ giảm độ hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.
FDI sẽ quay trở lại ?
Các động thái của Nhà nước Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy nỗ lực của phía chính quyền trong việc tái khẳng định tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.Giới phân tích cho rằng, nỗ lực rõ rệt nhất, đó là việc tái ổn định kinh tế vĩ mô, thắt chặt tín dụng và hạ mức lạm phát một cách quyết liệt kể từ Nghị Định số 11 năm 2011.
Các đề án tái cơ cấu ngân hàng cũng như Doanh nghiệp nhà nước của chính phủ Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đang được đánh giá là có những tác động tích cực lên tâm lí đầu tư nước ngoài.
Vấn đề giải ngân trong báo cáo của Cục thống kê cũng được các chuyên gia cho là tốt hơn so với cùng kì năm ngoái, chứng tỏ sự tiến bộ trong công tác quản lí nguồn FDI.
Sự gia tăng trong các mối quan hệ song phương gần đây giữa Việt Nam và các nước Nhật, Mỹ, Nga cũng được cho là đang mở đường cho những nguồn FDI đầy tiềm năng.
Tuy nhiên, có một điều mà giới quan sát đồng thuận, đó là Việt Nam cần quyết liệt hơn nữa trong việc giải quyết các vấn đề hiện hữu trong cơ cấu đã và đang khiến các khối đầu tư tỉ đô quay mặt đi.
.