Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng

http://hn.24h.com.vn/tin-gia-vang/vn-lai-lot-top-10-nuoc-ngon-vang-c424a438342.html

Theo báo cáo thường niên vừa công bố của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), trong năm 2011, nhu cầu vàng toàn cầu tăng cao kỷ lục trong vòng 14 năm với hơn 4.000 tấn, trị giá khoảng 206 tỷ USD.

Đây là năm đầu tiên nhu cầu vàng của thế giới vượt mức 200 tỷ USD. Trong đó, nhu cầu đầu tư vàng của thế giới tăng gần 5% so với năm 2010, đạt mức kỷ lục 1.640,7 tấn.
Sức mua vàng tại thị trường Ấn Độ và Trung Quốc chiếm tới 49 % nhu cầu thế giới và 55% nhu cầu trang sức toàn cầu.
Năm 2011, giá vàng thế giới lập kỷ lục ở mức 1.920,3 USD/oz, đồng thời cũng có lúc chỉ ở mức 1.300 USD/oz. Vì thế, năm qua được xem là một trong những năm chứng kiến giá vàng biến động mạnh nhất trong lịch sử.
Dưới đây là danh sách 10 quốc gia có sức mua vàng lớn nhất thế giới trong năm 2011 theo WGC:

10. Arab Saudi
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 72,2 tấn
Tăng trưởng: -12%
Do giá vàng cao và không ổn định, tổng nhu cầu vàng của Arab Saudi giảm 12% so với năm 2010 từ mức 82,1 tấn xuống còn 72,2 tấn, chiếm 36% nhu cầu toàn khu vực Trung Đông. Trong đó, nhu cầu về trang sức của nước này cũng giảm 17% so với năm trước, chỉ còn 55,8 tấn.

9. Nga
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 75,1 tấn
Tăng trưởng: 14 %
Xu hướng tiêu thụ vàng của Nga ngày càng tăng mạnh, mặc cho giá vàng thế giới tăng cao. Nhu cầu vàng của xứ sở bạch dương tăng 14 % từ 66 tấn lên 71,5 tấn. Đồng thời, Nga cũng là nước sản xuất vàng lớn thứ 4 thế giới trong năm 2011, với sản lượng 200 tấn.

8. Việt Nam:
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 100,3 tấn
Tăng trưởng: 23%
Nhiều nước châu Á có nhu cầu tiêu thụ đồ trang sức vàng ít hơn trong năm 2011 vì người tiêu dùng thất vọng với giá vàng tăng vọt. Nhưng nhu cầu mua vàng của Việt Nam vẫn tăng gần 1/4 so với năm 2010, từ 81,4 tấn lên mức 100,3 tấn. Trong năm 2011, Việt Nam cũng xuất khẩu khoảng 35 - 38 tấn vàng.
Đây là năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam giữ vị trí này.

7. Thái Lan

VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 108,9 tấn
Tăng trưởng: 57%
Mức tiêu thụ vàng tăng trưởng đột biến đã đưa Thái Lan giữ vị trí thứ 7 trong danh mục 10 nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới. Trong văn hóa người Thái thì vàng là biểu trưng cho sự giàu có, thịnh vượng.

6. Thụy Sĩ
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 116,2 tấn
Tăng trưởng: 25%
Do cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực thúc đẩy các nhà đầu tư ở đây tìm đến kim loại này như một “vịnh tránh bão” nên nhu càu vàng ở các quốc gia châu Âu tăng cao. Sự tăng trưởng nhu cầu này tập trung chủ yếu ở hai quốc gia là Đức và Thụy Sĩ.
Đất nước “đồng hồ” này đã mua 116,2 tấn vàng trong năm 2011, nhiều hơn năm 2010 là 23,5 tấn.

5. Thổ Nhĩ Kỳ
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 144,2 tấn
Tăng trưởng: 30%
Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là nước mua vàng lớn thứ 5 thế giới trong năm 2011. Giá vàng tăng kỷ lục đã thực sự tác động lên thị trường. Các nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ coi thứ kim loại màu quý giá này là phương thức đầu tư an toàn nhất vào thời điểm hiện tại. Nhu cầu mua đầu tư vàng tăng tới 99%, trong khi nhu cầu mua trang sức lại giảm 10%.

4. Đức
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 159,3 tấn
Tăng trưởng: 26%
Đức là một trong hai quốc gia có sức tiêu thụ vàng lớn nhất châu Âu. Nhu cầu mua vàng của người Đức tăng từ 126,9 tấn (năm 2010) lên 159,3 tấn (năm 2011).

3. Mỹ

VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 194,9 tấn
Tăng trưởng: -17%
Mỹ là quốc gia tiêu dùng vàng nhiều thứ 3 thế giới trong năm 2010. Tuy nhiên, nhu cầu vàng trang sức, vàng thỏi và vàng đồng xu đã giảm đáng kể, khoảng 17% so với năm 2010. Nhu cầu vàng của Mỹ liên tục giảm trong những năm gần đây là do cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước kéo dài.

2. Trung Quốc
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 811,2 tấn
Tăng trưởng: 22%
Là nước tiêu thụ vàng lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc chứng kiến nhu cầu vàng tăng 20% trong năm qua, lên mức 769,8 tấn. Trong đó, nhu cầu vàng thỏi và xu vàng cho mục đích đầu tư tăng 38%, đạt 258,9 tấn; nhu cầu vàng nữ trang tăng 13%, đạt 510,9 tấn.
Đặc biệt, nhu cầu vàng nữ trang của Trung Quốc tăng trong mọi quý của năm 2011. Trong quý 2, nước này đã trở thành thị trường vàng nữ trang lớn nhất thế giới.
Trong quý 4/2011, tổng nhu cầu vàng của Trung Quốc là 190,9 tấn, so với mức 173 tấn của Ấn Độ, đưa nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới trở thành thị trường tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới trong quý.
Theo các chuyên gia của WGC, với đà này, Trung Quốc sẽ vượt Ấn Độ để trở thành thị trường vàng lớn nhất thế giới trong năm 2012 hoặc 2013.

1. Ấn Độ
VN lại lọt Top 10 nước 'ngốn' vàng, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, gia vang, gia vang hom nay, vang mieng, giao dich vang, WGC, nhu cau vang, thi truong vang, bao
Tiêu thụ: 933,4 tấn
Tăng trưởng: -7%
Ấn Độ vẫn là nước tiêu thụ nhiều vàng nhất trong năm 2011, bất chấp sự suy yếu của đồng Rupee của nước này. Ấn Độ chỉ sản xuất khoảng 4 tấn vàng mỗi năm, con số này bằng 0,4% lượng tiêu thụ vàng của nước này.
Người dân Ấn Độ tiêu thụ tổng cộng hơn 933 tấn vàng trong năm qua, giảm 7% so với năm 2010. Trong đó, nhu cầu mua vàng trang sức giảm 14%, khoảng 567,4 tấn. Nhu cầu mua vàng đầu tư 5%, lên mức 366 tấn.

10 mỏ vàng lớn nhất thế giới

http://hn.24h.com.vn/tin-gia-vang/10-mo-vang-lon-nhat-the-gioi-c424a436837.html

Trên thế giới, đến nay đã có tổng số khoảng 165.000 tấn vàng được khai thác. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc đâu là mỏ vàng lớn nhất.

Nhiều người cho rằng, mỏ vàng Muruntau ở Uzbekistan là mỏ lớn nhất, trong khi nhiều người khác lại tin là mỏ Grasberg ở Indonesia mới là mỏ dẫn đầu thế giới về sản lượng.
Dựa trên những nguồn dữ liệu đáng tin cậy nhất về sản lượng vàng khai mỏ, ngoài báo cáo từ các công ty khai mỏ hàng đầu, trang International Business Times đã điểm qua những mỏ vàng lớn nhất trên thế giới. Xếp hạng dựa trên số liệu về sản lượng của các mỏ vàng này trong năm 2010:

1. Mỏ Grasberg
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Mỏ vàng có 19.500 công nhân này nằm ở tỉnh Papua của Indonesia. Theo báo cáo thường niên của Rio Tinto, sản lượng của mỏ này trong năm 2010 là 2,025 triệu ounce vàng. Cổ phần chính của mỏ Grasberg thuộc quyền sở hữu của công ty Freeport-McMoRan Copper & Gold. Ngoài vàng, mỏ này còn cung cấp bạc và đồng.

2. Mỏ vàng Muruntau
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Mỏ Muruntau nằm 250 dặm về phía Tây thủ đô Tashkent của Uzbekistan. Sản lượng vàng của mỏ lộ thiên này trong năm 2010 ước tính khoảng 1,8 triệu ounce. Điều hành mỏ Muruntau là công ty quốc doanh Navoi Mining and Metallurgical Combinat của Uzbekistan.

3. Mỏ vàng Carlin-Nevada
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Năm 2010, mỏ vàng Carlin-Nevada ở bang Nevada của Mỹ cho sản lượng 1,735 triệu ounce vàng. Đây là mỏ thuộc sở hữu của công ty Newmont Mining Corp. Khai thác mỏ này, các nhà khai mỏ vừa tìm vàng lộ thiên, vừa đào vàng trong lòng đất.

4. Mỏ vàng Yanacocha
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Mỏ vàng tọa lạng ở miền Bắc Peru này là mỏ vàng lớn nhất ở Mỹ Latin, với sản lượng 1,46 triệu ounce vàng trong năm 2010. Mỏ do công ty Newmont Mining vận hành, đồng thời thuộc sở hữu của công ty này và đối tác Peru có tên Buenaventurda.

5. Mỏ vàng Goldstrike (Betze Post)
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Đây là mỏ vàng lớn tiếp theo ở bang Nevada của Mỹ, cho sản lượng 1,24 triệu ounce vàng trong năm 2010. Mỏ thuộc quyền sở hữu của công ty Barrick Gold Corp.

6. Mỏ vàng Cortez
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Lại một mỏ vàng lớn nữa ở Nevada, Mỹ. Mỏ Cortez là nơi sản xuất ra 1,14 triệu ounce vàng trong năm 2010. Đây là mỏ của công ty Barrick Gold.

7. Mỏ vàng Valerado
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Mỏ vàng lớn thứ 7 thế giới, Valerado nằm ở Argentina, cho sản lượng 1,12 triệu ounce vàng trong năm 2010. Mỏ này thuộc sở hữu của công ty Barrick Gold Corp.

8. Mỏ vàng Lagunas Norte
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Nằm ở phía Bắc của quốc gia Nam Mỹ Peru, mỏ Lagunas Norte là nơi sản xuất ra 808.000 ounce vàng trong năm 2010. Đây cũng là mỏ vàng của công ty Barrick Gold Corp.

9. Mỏ vàng Lihir
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Chủ sở hữu của mỏ vàng này là công ty Newcrest Mining, nhà sản xuất vàng lớn nhất Australia. Năm 2010, mỏ cho sản lượng 790.974 ounce vàng.

10. Mỏ vàng Super Pit/Kalgoorlie
10 mỏ vàng lớn nhất thế giới, Tin giá vàng, Tài chính - Bất động sản, mo vang, gia vang, mo vang lon nhat, tai chinh, gia vang nay, kinh te, tap chi time, xep hang, bao
Đây là mỏ vàng lộ thiên nằm ở miền Tây, Australia, thuộc quyền sở hữu của Barrick Gold Corp. và Newmont Mining. 788.000 ounce vàng đã được khai thác từ mỏ này trong năm 2010.

10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới

http://hn.24h.com.vn/tai-chinh-bat-dong-san/10-nuoc-san-xuat-nhieu-vang-nhat-the-gioi-c161a438747.html

Nhằm đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của thế giới đối với vàng, các quốc gia sản xuất kim loại này đã đẩy mạnh khai thác trong năm 2011, nâng tổng sản lượng vàng toàn cầu lên 2.700 tấn, tăng 5,5% so với năm 2010. Đây là số liệu trong một báo cáo về khoáng sản do Cơ quan Điều tra địa chất Mỹ (USGS) công bố mới đây.
Thông tin Tài chính - Bất động sản, Thị trường chứng khoán, Giá vàng cập nhật liên tục và nhanh nhất
Nguồn cung vàng của thế giới không phải là vô hạn. Vàng có mặt trên mọi lục địa, trừ Nam Cực, nhưng cho đến nay, thế giới mới chỉ khai thác được khoảng 170.000 tấn vàng.
Thực tế là, chỉ còn có khoảng 100.000 tấn vàng nữa trong trữ lượng vàng đã được phát hiện của thế giới có thể được khai thác có hiệu quả về mặt kinh tế trong tương lai. Thêm vào đó, sản lượng vàng toàn cầu mỗi năm hiện vào khoảng 2.500 tấn. Như vậy, trữ lượng vàng của thế giới có thể sẽ cạn kiệt trong vòng 4 thập niên tới đây.
Với các dữ liệu từ USGS, trang China.org.cn đưa ra danh sách 10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới năm 2011:

10. Uzbekistan
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 90 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 90 tấn

Uzbekistan là nước sản xuất vàng nhiều thứ 10 trên thế giới trong năm ngoái. Mức sản lượng vàng năm 2011 của nước này không thay đổi so với năm 2010. Từ năm 2000 tới nay, sản lượng vàng của Uzbekistan duy trì ổn định.
Trữ lượng vàng đã được phát hiện của nước này hiện vào khoảng 2.100 tấn. Mỏ vàng Muruntau ở sa mạc Kyzylkum thuộc miền Trung Uzbekistan là một trong những mỏ vàng lộ thiên lớn nhất thế giới và đóng góp chừng 70% sản lượng vàng của nước này.

9. (đồng hạng) Indonesia
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 100 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 120 tấn

Cùng với quốc gia châu Phi Ghana, Indonesia là nước sản xuất vàng nhiều thứ 8 trên thế giới năm 2011. Sản lượng vàng của nước này năm qua là 100 tấn, giảm 16,7% so với năm 2010. Nguồn tài nguyên vàng của Indonesia tập trung chủ yếu ở các khu khai thác khoáng sản Grasberg, Batu Hijau, Tujuh Bukit và Ertsberg.
Mỏ vàng Grasberg nằm ở tỉnh Papua của nước này là mỏ vàng lớn nhất thế giới. Vào năm 1999, mỏ này cho sản lượng đỉnh cao là 93 tấn, tương đương 2,6 triệu ounce vàng. Do ảnh hưởng của một cuộc đình công kéo dài 90 ngày từ tháng 9 năm ngoái, mỏ này chỉ sản xuất được 40 tấn vàng, tương đương 1,4 triệu ounce vàng, trong năm 2011, giảm từ mức 51 tấn, tương đương 1,8 triệu ounce vàng, trong năm 2010.

8. (đồng hạng) Ghana
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 100 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 82 tấn

Ghana đạt sản lượng vàng 100 tấn trong năm 2011, tăng 22% so với năm 2010. Nước này là quốc gia sản xuất vàng lớn thứ nhì của châu Phi sau Nam Phi. Nền kinh tế Ghana phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu hai mặt hàng là ca cao và vàng. Kim loại quý này chiếm khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu khoáng sản của Ghana. Sản lượng vàng của Ghana tăng trưởng đều đặn trong mấy năm gần đây. Các mỏ vàng của quốc gia này tập trung chủ yếu ở khu vực phía Tây.

7. Canada
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 110 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 91 tấn

Đứng thứ 7 thế giới về sản lượng khai thác vàng trong năm 2011 là Canada. Nước này sản xuất được 110 tấn vàng trong năm 2011, tăng 20,9% so với năm 2010. Các mỏ vàng ở Ontario, Quebec và British Columbia đóng góp 86% tổng sản lượng vàng của Canada. Trong đó, mỏ Red Lake ở Ontario là mỏ vàng lớn nhất của nước này, chiếm hơn một nửa tổng sản lượng vàng toàn quốc.

6. Peru
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao

Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 150 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 164 tấn

Peru xếp vị trí thứ 6 thế giới về sản lượng vàng trong năm ngoái, với mức khai thác 150 tấn, giảm 8,5% so với năm 2010. Sản lượng vàng của Peru đạt đỉnh 210 tấn vào năm 2006, nhưng đã liên tục đi xuống kể từ đó. Trữ lượng vàng đã được tìm thấy của Peru vào khoảng 590 tấn, chủ yếu tập trung ở các tỉnh như Cajamarca (30%), La Libertad (16%), Apurimac (16%), và Arequipa (12%).
Mỏ vang Yanacocha ở Cajamarca là mỏ vàng lớn nhất của khu vực Nam Mỹ, cung cấp 42,5 tấn vàng (tương đương 1,5 triệu ounce vàng) trong năm 2010. Mỏ Lagunas Norte thuộc miền Bắc Peru là mỏ vàng lớn thứ nhì nước này, với sản lượng 23 tấn vàng, tương đương 808.000 ounce vàng trong năm 2010.

5. Nam Phi
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 190 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 189 tấn

Đứng thứ 5 thế giới về sản lượng vàng trong năm 2011, Nam Phi đạt sản lượng 190 tấn vàng, tăng 0,5% so với năm 2010. Đây là quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên vàng lớn nhất thế giới, với trữ lượng vàng đã được tìm thấy là 31.000 tấn. Các mỏ vàng chính của Nam Phi tập trung ở khu vực Archaean Witwatersrand Basin, nơi đã có 41.000 tấn vàng được khai thác tính tới nay.
Vào năm 2007, Nam Phi để mất ngôi vị nước xuất khẩu vàng lớn nhất thế giới mà quốc gia này đã nắm vững suốt từ năm 1896 vào tay Trung Quốc. Kể từ đó, sản lượng vàng của Nam Phi duy trì đà đi xuống. Sản lượng vàng của Nam Phi đạt đỉnh 1.000 tấn vào năm 1970, nhưng sau đó giảm nhanh do những vấn đề như chất lượng quặng suy giảm, mất điện, chi phí sản xuất gia tăng…

4. Nga
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao

Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 200 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 192 tấn

Với sản lượng 200 tấn vàng, tăng 4,2% so với năm 2010, Nga là nước sản xuất vàng lớn thứ tư thế giới trong năm 2011. Trữ lượng vàng đã được phát hiện của Nga là khoảng 7.000 tấn, lớn thứ nhì trên thế giới. Các mỏ vàng của Nga tập trung chủ yếu ở vùng Siberia và Viễn Đông, trong đó phải kể tới các mỏ lớn như mỏ Kupol ở Chukotka, mỏ Olympiada ở Krasnoyarsk, mỏ Voro ở Sverdlovsk, và mỏ Khakanja ở Khabarovsk. Trong năm 2011, Ngân hàng Trung ương Nga đã mua hơn 90 tấn vàng.

3. Mỹ
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 237 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 231 tấn

Sản xuất nhiều vàng thứ 3 thế giới năm 2011, nước Mỹ đạt sản lượng vàng 237 tấn, tăng 2,6% so với năm 2010 và đánh dấu năm tăng thứ 2 liên tục. Đóng góp chủ yếu vào phần sản lượng tăng thêm này là hoạt động khai thác vàng được tăng cường ở các mỏ vàng được mở cửa trở lại ở Montana và Nevada.
Hoạt động khai mỏ vàng của Mỹ diễn ra chủ yếu ở các bang Nevada, Alaska, Utah và Colorado. Trong đó, Nevada là bang sản xuất nhiều vàng nhất của Mỹ, chiếm 75% sản lượng vàng toàn quốc. Bang này cũng là nơi có những mỏ vàng lớn nhất của Mỹ, bao gồm mỏ Carlin-Nevada Complex, mỏ Goldstrike và mỏ Cortez.

2. Australia
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 270 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 261 tấn

Với sản lượng vàng 270 tấn trong năm 2011, Australia là nước sản xuất nhiều vàng thứ nhì trên thế giới. So với năm 2010, sản lượng vàng nước này năm qua tăng 3,45%. Khắp nơi trên đất nước Australia, đâu cũng có mỏ vàng, nhưng những mỏ lớn nhất nằm ở phía Tây, phía Nam và bang New South Wales. Miền Tây Australia đóng góp khoảng 2/3 sản lượng vàng của nước này.
Các mỏ vàng quan trọng nhất của Australia bao gồm mỏ Super Pit ở Kalgoorlie thuộc miền Tây, mỏ Telfer ở Pilbara, các mỏ St Ives, Agnew, Boddington và Sunrise Dam ở khu vực Yilgarn Carton, mỏ Candia-Ridgeway ở New South Wales, và mỏ Tanami ở phía Bắc. Mỏ Super Pit có sản lượng vàng lên tới 20 tấn (850.000 ounce) mỗi năm.

1. Trung Quốc
10 nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới, Tài chính - Bất động sản, gia vang, vang mieng, gia vang hom nay, giao dich vang, san xuat vang, tai chinh, bao

Sản lượng khai mỏ vàng năm 2011: 355 tấn
Sản lượng khai mỏ vàng năm 2010: 345 tấn

Là nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới năm 2011, Trung Quốc đạt sản lượng 355 tấn vàng, tăng 2,9% so với năm 2010. Đây là năm thứ 5 liên tiếp, Trung Quốc đứng ở vị trí này, kể từ khi vượt lên Nam Phi vào năm 2007. Trung Quốc có trữ lượng vàng đã được phát hiện vào khoảng 6.328 tấn, xếp thứ ba trên thế giới. Các mỏ vàng của Trung Quốc tập trung chủ yếu ở vùng phía Đông của đất nước. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, các tỉnh phía Tây như Quý Châu và Vân Nam cũng đã gia tăng sản lượng vàng.
Trong năm ngoái, 5 tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tây, Phúc Kiến và Nội Mông đóng góp 59,9% sản lượng vàng của Trung Quốc. Khoảng 184 tấn vàng, tương đương 51% tổng sản lượng vàng ở nước này, đến từ 10 công ty khai mỏ lớn nhất Trung Quốc gồm Tập đoàn Khai mỏ Quốc gia Trung Quốc, và hãng Zijin Mining. Hãng tư vấn GFMS có trụ sở ở London dự báo, năm nay, Trung Quốc sẽ vượt Ấn Độ để trở thành nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới.

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Người Việt tiêu hoang khiến thế giới phát hoảng

http://www.tinkinhte.com/viet-nam/phong-van-yeu-nhan/nguoi-viet-tieu-hoang-khien-the-gioi-phat-hoang.nd5-dt.150767.113209.html


Tôi có nhiều người bạn quốc tế có trình độ cao, có thu nhập lớn, trong đó có những người là tỷ phú, họ cực kỳ ngạc nhiên trước sự tiêu xài của không ít người Việt. 

Một số người Việt tiêu xài hoang phí, chạy đua theo hàng hiệu với những siêu xe, chuyên cơ, đồng hồ, mỹ phẩm... Thế giới có gì sang trọng Việt Nam đều có cả. "Nhà giàu" khoác lên mình một lô hàng hiệu chỉ để thoả mãn cho sự khoe của bất chấp sự khó khăn chung của xã hội. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt đã cùng PV nhìn thẳng về góc độ đạo đức trong tiêu xài hàng siêu sang của một nhóm người được coi là "trọc phú" trong xã hội.

Tiền tiêu hoang là khoản... "kiếm được ngẫu nhiên"
- Thưa ông, hiện nay có một xu hướng tiêu dùng của không ít người Việt hướng đến các loại hàng siêu sang nhằm khẳng định "đẳng cấp nhà giàu", ông nói gì về điều này?
Hiện tượng tiêu xài một cách xa xỉ, đặc biệt đối với nước nghèo như Việt Nam là hiện tượng đáng lên án. Điều đáng lên án vì nó truyền bá một thói quen sống bất chấp năng lực của nền kinh tế, năng lực của nền công nghiệp, gây khó cho việc xác định tiêu chuẩn tiêu dùng phù hợp với điều kiện phát triển của một dân tộc.
Việc tiêu xài ở Việt Nam đã thành chuyện nổi tiếng trên thế giới. Tôi có nhiều người bạn quốc tế có trình độ cao, có thu nhập lớn, trong đó có những người là tỷ phú, họ cực kỳ ngạc nhiên trước sự tiêu xài của không ít người Việt. Những năm 70 của thế kỷ trước, tôi có làm việc với một giáo sư người Pháp khi ông này sang Việt Nam công tác.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt: Người Việt tiêu hoang khiến thế giới phát 'hoảng'

Thấy người lái xe hút thuốc ba số 5, ông ấy hỏi: "Lương anh tương đương với bao nhiêu gói thuốc? ". Người lái xe nói lương một ngày mua được 3-4 điếu thuốc. Ông giáo sư ấy thốt lên: "Người Việt tiêu xài còn hơn cả Mỹ". Thói quen tiêu xài hoang phí của một số người Việt không phải bây giờ mới có. Nó có từ khi trước đổi mới, kể cả lúc nghèo khổ và cực kỳ nghèo khổ. Tôi cho rằng đó là một thói quen xấu, cần phải thay đổi.


Chuyên gia kinh tế: Người Việt "đốt" tiền vì... bệnh sĩ
Những siêu xe như này đang được giới giàu Việt Nam "tha" về... làm cảnh.
- Chuyện tiêu hoang, có phải là do thói quen thích oai, thích hư danh của người Việt, thưa ông?
Tôi nghĩ cũng chỉ có một phần thôi. Cái chính tiêu xài hoang phí xuất phát từ những món tiền kiếm được một cách... "ngẫu nhiên" và phi lao động. Không có một người lao động Việt Nam nào với năng lực hiện nay có thể kiếm tiền để mua xe ô tô Rolls -Royce. Trong khi đó, tại Việt Nam, tất cả những hãng xe nổi tiếng, các loại xe siêu sang đều có mặt ở nước ta.Chúng ta đang bắt đầu có những chiếc máy bay cá nhân đầu tiên. Tôi không hiểu được (không phải vì thói quen thích tiêu xài, vì ai bỗng dưng có tiền đều thích tiêu hoang thôi), tại sao họ lại cưỡi lên những sự đau khổ xung quanh để tiêu xài vô lối như vậy. Đó là thói quen gây ngạc nhiên cho tôi.
Tôi là người đã sống qua nhiều thời kỳ của đất nước, từ thời bao cấp cho đến nay. Tôi thấy người Hà Nội xưa, sự giàu có, sang trọng cũng được thể hiện một cách kín đáo và sự nghèo khổ cũng rất kín đáo. Hình như người Việt mình đang mất dần thói quen kín đáo.

"Đẳng cấp là kết quả của sự lừa bịp"
- Có những người đặt riêng chiếc đồng hồ Thuỵ Sĩ làm bằng vàng ròng, nạm kim cương với giá gần 1 tỷ đồng, hay chiếc bút làm bằng đá thạch anh 4, 5 tỷ năm tuổi giá hơn nửa tỷ đồng gắn với biểu tượng nào đó của Việt Nam. Như thể chủ nhân của những món hàng "cực độc" cho rằng mình mua hàng xa xỉ nhưng yêu nước. ông nghĩ sao về cách biện minh này?
Yêu nước trong chuyện này cũng chỉ là một phương tiện được sử dụng một cách bất chính, vô đạo lý. Tôi không nghĩ, không tin có học giả quan trọng nào trên đất nước chúng ta sử dụng chiếc bút hơn nửa tỷ đồng. Và tôi tin rằng chiếc bút đắt tiền ấy chưa bao giờ có vinh dự viết ra được bất kỳ điều gì mà chúng ta đáng đọc. Đó là thói quen đứng ngoài ranh giới đạo đức thông thường của người Việt.

Ngay cả những ông chủ lớn của nước ngoài cũng "hoảng" khi thấy các "đại gia" của Việt Nam đi xe hơi quá "xịn". Phải chăng vì có ô tô đắt tiền, các phụ kiện thời trang hàng hiệu mới làm nên đẳng cấp của ông chủ Việt?
Việt Nam là nước có thu nhập nếu tính tích cực thì mới trên dưới 1.000USD/năm, với đô thị giàu có là Hà Nội cũng chỉ bình quân 3.000-4.000USD/năm thôi. Một nước như vậy, không thể coi là giàu. Thậm chí, có "đại gia" trông thì sang vậy thôi, nhưng túi lại rỗng. Tài sản ấy lại là đồ cầm cố ngân hàng cả đấy. Đẳng cấp là kết quả của sự lừa bịp.

- Vậy ông lý giải tại sao người Việt lại sẵn sàng bỏ tiền mua những món hàng hiệu xa xỉ như 40 triệu đồng chỉ cho 2 lọ 5ml kem trang điểm cho đến những siêu xe, chuyên cơ?
1m2 đất thu hồi của người dân chỉ đền bù 100-200 ngàn đồng, nhưng vẫn 1m2 ấy khi chuyển thành đất dự án thì được bán 5-10 triệu đồng /m2, thậm chí 20-30 triệu đồng /m2. Tất cả những điều kiện để tiêu hoang, mua hàng siêu xa xỉ nằm trong khoản ấy.

- Như vậy cho thấy sự không công bằng và bất bình đẳng?
Tôi cho rằng đó là sự tước đoạt của mọi người. Đó là chuyện phổ biến mà tôi không nói nặng lời đâu. Đó là sự tước đoạt một cách khôn khéo, hoặc một cách thô thiển tuỳ từng trường hợp. Nhưng về cơ bản, tôi vẫn cho rằng đó là sự tước đoạt.

- Nhưng có ý kiến cho rằng, người có tiền họ chi tiêu như thế nào đó (không vi phạm pháp luật) thì đó là quyền của họ?
Không ai bắt những người tiêu hoang phí ấy đi tù cả. Nhưng chúng ta có quyền lên án họ dưới góc độ đạo đức xã hội. Chúng ta cũng có quyền hô hào xã hội lên án những thói tiêu hoang bất chấp đạo lý xã hội đó. Chúng ta không nói đến một cá nhân nào cả, chúng ta lên án hiện tượng đó mà để mỗi người tự rút ra kết luận cho mình phù hợp với tiêu chuẩn xã hội.

- Ông bình luận thẳng như vậy có sợ ai đó cho rằng "nhà nghèo" hằm hè "nhà giàu" không?
Tôi không phải là người nhà nghèo. Tôi cũng không nói việc này như kẻ nghèo khổ. Tôi cho rằng kể cả giàu có cũng không được phép tiêu xài như thế.

- Vậy thưa, ông cũng là "nhà giàu", thái độ của ông đối với tiêu xài hàng hiệu, hàng xa xỉ ra sao. ông có bị hấp dẫn bởi những món hàng ấy không?
Chúng ta hội nhập kinh tế thế giới, gia nhập WTO rồi thì những hàng hoá như vậy có quyền vào Việt Nam. Hàng xa xỉ, hàng hiệu cũng như hoa hậu ấy, nó có sự quyến rũ lớn lắm. Đôi khi chúng ta quên vợ đi vì cô hoa hậu, chúng ta quên đạo đức đi vì món hàng xa xỉ. Hàng xa xỉ có mục tiêu rõ ràng là dụ dỗ con người ra khỏi sự sáng suốt thông thường. Hàng hiệu không có lỗi. Nó là sản phẩm của một công nghệ, lao động rất cao nên bản thân nó đã có sức hút. ở đây, tôi chỉ muốn nói đến việc cần lên án những con người sử dụng những hàng xa xỉ trong điều kiện một quốc gia còn nhiều khó khăn.
- Xin cảm ơn ông!

(Theo Người đưa tin)

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

Đặt vấn đề về Tư duy Kinh tế của Việt Nam

http://dudoankinhte.wordpress.com/2012/01/18/tu-duy-ktxhcn/

Từ hơn năm chục năm nay, tức là ngay trong và sau các cuộc chiến tranh, khách quan mà nói, nhà nước XHCN Việt nam đã luôn có những cố gắng tìm cách phát triển nền kinh tế mà họ định hướng là sẽ phải mang tính XHCN. Thế nhưng tại sao kết quả thì “Việt Nam vẫn là nước nghèo”, như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng mới vừa “hùng hồn” tuyên bố? Thực tế, kinh tế nước Việt ta đang còn lùi xa sau các nước lân cận mà trước đó, ngay cả khi trong những cuộc chiến tranh tàn khốc, nước ta vẫn có Hòn ngọc Viễn đông để vẫy gọi họ.

Hơn ba chục năm hoà bình ổn định là thời gian đủ dài để hai nước Á Đông lớn trở thành cường quốc kinh tế thế giới là Nhật (số 3 thé giới ) và Trung quốc (số 2 thế giới), hoặc để đa số các nước Đông Nam Á hoá rồng, như Hàn Quốc (thứ 13 Thế giới) hay Đài loan, Hongkong hay Singapore (tốp Rồng con), Malaysia hay Thái Lan (tốp đầu Đông Nam Á), chỉ riêng trừ Việt Nam XHCN là cứ tự mình “ưu việt” từ tốp đầu ĐNA lùi lại chót!

Hiện nay, rõ ràng ngay cả Philippine, Miamma, Lào hay Cămpuchia cũng đã, đang và sẽ có khả năng bứt phá, vượt qua Việt Nam trong 3-5 năm tới, làm câu hỏi trên càng thêm vô cùng nhức nhối lòng mỗi người Việt có tự trọng và tư duy.

Vậy, các nước đã và sẽ hoá rồng bứt phá bằng những điều kiện ưu việt hơn ta? Không, họ chỉ bứt phá bằng tư duy kinh tế khác. Đó không còn là vấn đề đúng sai của các chiến lược, mô hình hay đường lối kinh tế của đảng và chính phủ nữa, bởi vì vấn đề chiến lược các nước đều có thể học nhau và tự điều chỉnh… Vấn đề là tư duy kinh tế nào của đảng và chính phủ đang là cơ sở cho việc áp dụng các chiến lược kinh tế đó suốt mấy chục năm nay mà không thay đổi?

Tư duy kinh tế đó đã và đang trói chân buộc cánh nền kinh tế Việt Nam vốn “hứa hẹn cất cánh” từ 1975, rồi lại được kỳ vọng “sẽ cất cánh” sau đổi mới 1986, rồi lại “đang trên đường rồng bay” từ 2000, suốt cả hơn chục năm nay? Để rồi sắp hạ cánh xưống vực thẳm trong 2012-2013?!

Vậy, cái gọi là Tư duy kinh tế của Việt Nam là gì? Đó là tư duy kinh tế XHCN mang tính thị trường hay Tư duy kinh tế Thị trường định hướng XHCN, duy nhất chỉ VN có trên thế giới và na ná giống một hệ tư duy kinh tế cũng duy nhất khác: kinh tế Thị trường mang bản sắc TQ…(thực ra thì ta copy cái tên và chế biến đồ cũ dùng lại).

Thực trạng kinh tế Việt Nam 2011: một câu hỏi lớn
Cuộc “cất cánh” của nền kinh tế Việt Nam từ 1986 đến 2011 nghe chừng vẫn đang trục trặc chưa tìm thấy “đường băng” đâu, mà chỉ thấy bản thân nó đang bị rụng rơi từng “cánh” một…

Rụng đầu tiên là “cánh” “quả đấm thép” đóng tàu Vinashin. Nó cũng đã làm tan nát chiến lược kinh tế biển quốc gia đến 2030 mà Vinashin đã được thủ tướng và đảng đặt ở trọng tâm, ảnh hưởng tồi tệ đến không chỉ các ngành kinh tế biển khác (như hàng hải, thuỷ sản, du lịch, dầu khí, năng lượng…) mà cả khoa học biển và an ninh quốc phòng, cả vẹn toàn lãnh thổ quốc gia trên biển.

Tiếp theo là “cánh” “giấc mơ bốn bánh ô tô” dần tan vỡ âm thầm trước khí lên tiếng chào đời, để cho La Đalạt của CVCH từ trước 1975 vẫn là đỉnh cao ngất ngưởng không thể vượt qua. “Giấc mơ bốn bánh” kết thúc bằng thế giới đệ nhất thị trường xe hai bánh (thị trường lớn nhất) cho 95% dân lao động và thế giới đệ nhất xe sang (nhập ngoại) của quan chức và các đại gia “cùng nhóm” thân hữu. Tóm lại là Việt Nam chắc chắn và mãi mãi sẽ không bao giờ có một mác xe nào của mình ngoài La Đà lạt thân yêu!

“Cánh” đường sắt thì mới bị gãy trên “giấy” và “mồm” sau cơn cuồng ngộ ĐSCT của chính phủ, nay cũng chưa thể nâng cấp đường 1m thành 1,45m…, điều thế giới cơ bản đã làm xong trong thế kỷ trước rồi. Dù vậy, đảng ta vẫn còn đang âm mưu trở lại ước mơ ĐSCT mang màu sắc TQ trong tương lai gần để đưa dân tộc “đi tắt vào tương lai”…

Còn “cánh” ngành vật liệu cơ bản (thép, xi măng…), vốn chỉ biết bán nhân công độc quyền kiếm lời trên sân nhà và xin chế độ bảo hộ thì luôn thua trắng nước ngoài và chỉ biết đổ lỗ cho thị trường nội địa.
“Cánh” công nghiệp nặng và cơ khí chế tạo “là then chốt” của nên kinh tế đất nước nửa thế kỷ nay thì đã gãy chốt từ trước 1986 mà chưa gắn chốt lại được, và có lẽ kinh tế nước ta sẽ mãi mãi không có then chốt nữa, vì…

“Cánh” cơ khí-luyện kim-chế tạo máy với hàng trăm hàng ngàn tiến sĩ giáo sư vẫn chưa làm nổi các con bùlong đinh ốc cho chiếc xe máy, chứ chưa nói đến cho các ngành công nghiệp nội địa, và còn phải đi học các bác nông dân đang tự chế tạo máy móc nông cụ cho đến cả trực thăng… vài trăm năm nữa?

Các “cánh” điện tử, hoá chất, nhựa cũng sẽ sắp tan chảy hay bốc khói … vì chỉ chuyên dùng máy móc và công nghệ cũ của TQ, Đài loan…thải ra, không chế được 1 con chip, lắp đước một cái handphone…

“Cánh” điện, nước, xăng, dầu, than khoáng sản… thì luôn là hiểm hoạ tăng giá sản xuất và sinh hoạt của xã hội lên không ngừng vì …kinh doanh lỗ! Lạ thế, có tiền vốn, có độc quyền thị trường, có mọi chính sách hỗ trợ và chỉ việc đào tài nguyên đất nước của Tổ tiên để lại lên mà bán mà cứ lỗ triền miên trên “mỏ vàng vô tận” của dân tộc…

Tôi xin nói riêng về “cánh” dầu khí trong dịp khác, vì khi nó gẫy là thảm hoạ kinh tế sẽ bao trùm tất cả, nền kinh tế quốc gia sẽ sụp đổ, quốc gia sẽ sụp đổ…

Chỉ có “cánh” buôn bán nông sản, hải sản, và nhân công may mặc, giày da… là có lãi và có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế, nhưng người lao động thì ngày càng vô sản và tương lai ngành cũng hoàn toàn phụ thuộc thị trường “tư bản bóc lột” quốc tế mà thôi.

Các cánh là nông nghiệp và kinh tế dân doanh thì không thể rụng được, vì các nhân dân vẫn luôn còn đó, nhân dân vẫn luôn phải tự nuôi mình, chỉ có điều họ không thể nuôi cả đảng và chính phủ, quân đội chỉ bằng sức lao động của họ mà thôi. Nhung nông dân vẫn thiếu đói, cụ thể là Thanh hoá đang đói rộng (trên 240,000 dân đang thiếu đói 2011!).

Chỉ có hai điểm sáng le lói cuối đường hầm kinh tế Việt Nam: kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Có mẫu số chung nào trong tình trạng đó của nền kinh tế nước ta hiện nay? Đó là tư duy kinh tế định hướng XHCN!

Thử lý giải hiện trạng và gọi tên nguyên nhân “gẫy cánh”
Thẳng thắn mà nói, bản thân cách chúng ta phải liệt kê thất bại của các ngành kinh tế VN như trên cũng đã nói nên nguyên nhân thất bại của nó trong tư duy kinh tế, đó là cách tư duy cục bộ, tư duy chiến tranh và tư duy chuyên ngành của lý thuyết kinh tế XHCN, bắt nguồn từ khái niệm XHCN ảo tưởng, đã quá lỗi thời vì sai lầm và đã bị cha sinh mẹ để của nó bỏ đi, mà VN ta đã “xin giống về trồng” đến nay vẫn quyết một lòng chăm bón.

Tư duy kinh tế cục bộ là cách tư duy tách biệt theo đơn vị địa phương nhỏ cấp tỉnh, tách khỏi cả nền kinh tế, không gắn liền và có quan hệ phụ thuộc hữu cơ với các bộ phận khác, như chiến lược chiến tranh du kích vậy. Nó rất tiện cho quan địa phương xâu xé, vì ngân sách quan trọng của nó là quĩ đất địa phương…
Tư duy kinh tế chiến tranh là cách tư duy xin-cho theo mệnh lệnh, nhiệm vụ cụ thể, riêng biệt của mỗi ngành kinh tế, không cần biết đến mối quan hệ của nhiệm vụ đó với các hoạt động kinh tế khác, giống như trong chiến tranh chỉ đơn vị nào tập trung biết nhiệm vụ của mình giao từ cấp trên…

Tư duy kinh tế vĩ mô chuyên ngành, tức là từ cấp nhà nước người ta đã chia nhỏ mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể rất vật chất và chuyên sâu cho từng bộ ngành, được đo bằng nhiệm vụ chính trị trước rồi mới đến hiệu quả kinh tế sau, rồi phân chia ngân sách (thuế và đi vay) cho từng ngành, để mỗi ngành từ đó tự mà lo hoàn thành nhiệm vụ.

Tất cả các ngành như một bầy bê con tranh nhau bú từ một bầu sữa bò mẹ, giữa chúng không hề có quan hệ tương tác chung nào khác ngoài cùng bò mẹ, hoặc quan hệ không được điều tiết bằng chính sách, mà chỉ bằng mệnh lệnh của… bò mẹ.

Đây là cách nhìn kinh tế của Mác, giống như Mác đã chia xã hội thành các giai cấp vậy. Nếu xã hội là một rừng cây, thì theo Mác, các “giai cấp” Lá, Cành, Thân, Rễ, Quả, Hoa… phải đấu tranh sinh tồn với nhau để tồn tại. Và để phát triển, một giai cấp (Lá chả hạn) phải tiêu diệt hết các giai cấp khác, biến họ thành mình… Rừng XHCN sẽ toàn lá?!

Như vậy, mục tiêu của đảng: “mỗi địa phương phải là một “pháo đài kinh tế” XHCN” (xưa là cấp huyện- hơn 500 pháo đài, nay là cấp tỉnh -hơn 60), “môĩ bộ ngành là một “đầu máy kinh tế” XHCN độc lập” (nay: hơn 20 bộ và gần 20 tập đoàn, tổng cty).

Từ tư duy đó, mỗi trong hơn sáu chục tỉnh thành đều phải có đủ các ngành “thế mạnh”: công nghiệp địa phương, các khu công nghiệp, các khu tiểu thủ công nghiệp, khu thương mại, du lịch phải có cả trường đại học của tỉnh, có y tế, giao thông riêng…bất chấp chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tư duy của bộ máy hành chính tỉnh, thành phố giống như tư duy của nguyên thủ quốc gia thu nhỏ, thành các ông vua con địa phương;
Từ tư duy đó, mỗi trong hơn ba chục bộ ngành nghề đều phải có đủ các các khu công nghiệp chuyên các khắp các vùng, các tỉnh từ bắc chí nam (Vinashin từng có trên 20 khu công nghiệp đóng tàu!), có các trường đại học chuyên ngành, các viện nghiên cứu khoa học chuyên sâu, các trung tâm tài chính riêng, các ngành công nghiệp phụ trợ riêng, các trường và trung tâm đào tạo lạo động chuyên ngành riêng, hậu cần du lịch, y tế riêng, bảo hiểm riêng…cũng bất chấp chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tư duy của bộ máy hành chính các bộ ngành giống y như tư duy của văn phòng chính phủ thu nhỏ, phải có đủ mọi lĩnh vực kinh doanh để “độc lập”(vơ vét): các chính phủ con;

Tổng cộng, (không tính các lực lượng kinh tế của quân đội, công an, đảng, công đoàn, phụ nữ, thanh niên… rất đông đảo và hùng hậu), trong nhà nước VN XHCN ta có khoảng trên một trăm “quốc gia và chính phủ con” như thế (khoảng trên 120) để thực hiện một mục tiêu kinh tế xã hội bằng trên dưới một trăm cách, một trăm hướng độc lập và cạnh tranh nhau khốc liệt khác nhau, tất cả có đầy đủ các hệ thống cung cấp dịch vụ riêng nội bộ giống như nhau: dịch vụ giao thông, đào tạo, nghiên cứu, nhà ở, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, …như loạn “120 xứ quân” vậy.

Tôi đã từng nghe các vị chủ tịch nhiều tỉnh thao thao tư duy kinh tế của mình như một vị nguyên thủ quốc gia cao nhất, hay các vị chủ tich TGĐ các tập đoàn thao thao các kế hoạch phát triển biết bao ngành nghề trọn gói chỉ tự cho tập đoàn minh, cứ như một vị đững đầu chính phủ lo cơm áo cho cả quốc gia. Tư duy của họ 120 kẻ đứng đầu “120 xứ quân” như vậy, đáng mừng hay đáng lo? Đảng thì mừng. Tôi thì lo, rất lo, cho dân.

Ví dụ “thủ tướng con”: Cựu TGĐ tập đoàn Vinashin Trần Quang Vũ từng chiêu đãi chúng tôi một bữa trưa thịnh soạn có món tôm sú hấp và ông giới thiệu đó là tôm tập đoàn Vinashin nuôi trên mấy chục hecta chỉ để cung cấp cho cán bộ công nhân viên các nhà máy đóng tầu ăn cũng không đủ. Tôi xuống nhà bếp nói chuyện hỏi anh em thì họ nói bị tập đoàn ép mua tôm đắt hơn ngoài chợ và họ phảỉ ăn mãi một món tôm đắt cả tuần, hàng ngàn công nhân đều ớn mà không ai kêu đến tai ông tổng được. Cũng ông Vũ bữa khác còn khoe rằng tập đoàn ông đang đầu tư mấy trăm hecta rừng trồng thông để cung cấp…cây thông Noel cho công nhân tập đoàn cả nước! Kết quả của tư duy kinh tế Vinashin đó thế nào ta đã rõ…

Ví dụ “vua con”: Bí thư một tỉnh trung du duyên hải tầm trung bình như Quảng Ninh nhưng có khá lắm đất nhiều đồi, rất ít ruộng lại quyết tâm mong muốn để mỗi huyện thị phải có ít nhất 2-3 khu công nghiệp, tỉnh có 13 huyện thị vị chi sẽ phải có trên hai chục khu công nghiệp (sẽ lấy đi số lớn đất ruộng nông nghiệp vốn rất ít ỏi của tỉnh) để hy vọng thu hút đầu tư. Với tư duy của các “vua con” như vậy, cả nước đang có trên 300 KCN và con số này sẽ tiến đến 500 trong vài năm tới (đã qui hoạch xong). Trong khi đó, Singapore là quốc gia chỉ có 5 khu công nghiệp nhưng có tổng thu nhập năm 2010 trên 182 tỷ USD, gấp đội VN – 86 tỷ USD). Tư duy tỉnh nào cũng phải có nhiều KCN để thu hút đầu tư làm nước ta có số khu công nghiệp đã quy hoạch gấp 60 lần Singapore nhưng GDP bằng một nửa của họ khi dân số gấp hơn 20 lần, tức hiệu quả kinh tế kém gấp khoảng… hơn hai nghìn bốn trăm lần!

Cơ sở của tư duy theo ngành và địa phương và rồi của hệ thống tổ chức quân đội, chính trị, xã hội trong cả nền kinh tế quốc gia như thế là do lý thuyết kinh tế Mác-Lênin vốn chỉ coi trọng các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất, không coi dịch vụ là ngành cũng làm ra giá trị đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân. Nay dù thu nhập quốc dân đã được tính gồm cả giá trị dịch vụ (đến trên 40%) thì cơ cấu tổ chức nhà nước với các bộ ngành của ta, các sở ban ngành của các tỉnh thành vẫn gần nguyên như cũ.

Hiện trạng của tư duy kinh tế XHCN và kèm theo nó là các tổ chức kinh tế như trên làm:

- Tổ chức kinh tế nặng nề, bùng nhùng, không có chỉ huy, kém linh hoạt và không hiệu quả: không thực sự đủ sức làm tốt việc gì;

- Khó hạch toán minh bạch gây nhiều thất thoát, khó kiểm soát gây tham nhũng bùng phát bên trong các tổ chức;

- Chia quá nhỏ và dàn trải tiềm lực kinh tế, không tập trung được vốn cho các khu vực trọng điểm; không thể chuyên sâu để có trình độ cao, chất lượng tốt để cạnh tranh quốc tế;

- Nhiều vấn đề các ngành hay các địa phương không thể tự giải quyết được mà phải là liên ngành và cấp trung ương cùng giải quyết như: đào tạo và cung cấp nhân lực lao động phổ thông chất lượng cao, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ chung, đầu tư phát triển các trung tâm nghiên cứu thí nghiệm ững dụng liên ngành, các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên, chung, và độc lập như bảo hiểm, tài chính, y tế, hay nghĩ dưỡng, du lịch…

- Các vấn đề không được giải quyết vì không được nhìn ra lại càng tự lây lan hay thấm sâu và gây cản trở cho phát triển chung…

Tư duy kinh tế như vậy có thể gọi là tư duy kinh tế tự sát hay tư duy bị ung thư, mà cái gen ung thư chính là hạt giống XHCN. Muốn khỏi chết, chỉ có cắt bỏ khối ung thư.

Kinh tế Việt Nam muốn phát triển thành Rồng, chỉ có một con đường: bỏ tư duy định hướng XHCN

Thay nó bằng gì? Chả cần thay gì cả, Tư duy kinh tế thị trường – hạt giống đã có trong khối kinh tế tư nhân và nước ngoài, tự nó sẽ phát triển thay thế và phát huy tác dụng tốt cho cả nền kinh tế và cả xã hội.

Bơm tiền nuôi những cục cưng ốm yếu

http://dudoankinhte.wordpress.com/2012/02/16/bom-tien-nuoi-nhung-cuc-cung-om-yeu/

Con dao phải đủ sắc để cắt những cục cưng lỗi thời | Vĩ mô – Đầu tư | Vietstock

“…Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó…”

Theo chính con số trên, các tập đoàn, tổng cty quốc doanh nợ TRÊN 1 TRIỆU TỈ ĐỒNG.

Tức là có thể 1 triệu tỉ lẻ 1 đồng, có thể 2, 3 triệu tỉ đồng. Chúng ta hãy tạm lấy con số tối thiểu: nợ 1 triệu tỉ đồng, tức 47,6 tỉ USD, theo giá USD = 21000 VND.

Theo đó, số vốn chủ sở hữu là 1/1,67, tức là 28,5 tỉ USD.

Vốn chủ sở hữu khác xa giá trị công ty. Theo tình hình hiện tại, có phần chắc là vốn chủ sở hữu cao hơn giá trị công ty nhiều, do chính ông Huệ công nhận, rất nhiều công ty, tập đoàn bị lỗ nhiều năm.

Như vậy, cho dù đem bán hết các cty, tập đoàn quốc doanh này, cũng khó đem lại 28,5 tỉ USD, mà có thể chỉ 20, 15, hoặc chỉ vài tỉ USD.

Không thể trả nợ
Trong khi đó, số nợ 1 triệu tỉ VND còn đó, quy ra 47,6 tỉ USD còn đó, làm sao giải quyết?

Nhiều ngân hàng “lời khủng” trong năm ngoái, là vì họ tin chắc sẽ thu hồi lại tất cả tiền họ cho vay.
Đang khi, chính họ cũng biết, là đa số dư nợ họ cho vay sẽ không thể nào đòi lại được.

Như trên, chỉ tính cty, tập đoàn quốc doanh, số cho vay là “hơn 1 triệu tỉ đồng”, nếu lấy tiền lời giá rẻ là 20%, thì hàng năm tiền lời lên tới 200 ngàn tỉ đồng, tức khoảng 9,52 tỉ USD.

Trong khi đó, cùng trong bài trên, họ nói: “Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%”.

Mà toàn bộ nền KT VN, theo chính phủ VN công bố, chỉ khoảng 90-106 tỉ USD mà thôi, tùy bản báo cáo.
Cho là cao nhất, theo họ nói, là 106 tỉ USD, như vậy, các cty, tập đoàn này có doanh số hàng năm khoảng 38% của 90-106 tỉ USD, tức là khoảng 34,2 – 40,28 tỉ USD.

Như vậy, cho là các cty, tập đoàn có doanh số hàng năm 38 tỉ USD, làm sao họ trả tiền lời ngân hàng 9,52 tỉ USD, tức là 25%.

Nói khác đi, 1/4 doanh số họ có phải dùng để trả tiền lời.

Xin nhắc lại, KHÔNG PHẢI LỢI NHUẬN, mà là tổng doanh số họ thu vào, chưa trừ vốn (lương công nhân, nguyên nhiên vật liệu, thuế, v.v…), cứ 4 đồng thì phải trả nợ 1 đồng.

Chưa hết, bài trên cũng thú nhận: “Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua.”

Hiện nay đang lỗ nặng, nhưng chúng ta hãy rộng lượng, lấy con số vào năm lời nhiều nhất, đó là 6%.
Đây là con số CHƯA trừ lạm phát, trả nợ ngân hàng vì 2 món này là khoảng 15% + 25% tức 40%, không thể lời 46%.

Như vậy, chưa tính bị lạm phát, họ phải trả tiền lời 25% doanh số, do đó cho dù “lời 6%” thì vẫn lỗ 19% doanh số, cho dù là trong năm thuận lợi nhất.

Và 19% doanh số tức là 19% của 38% GDP tức là 7,22% GDP, là con số CP VN phải bù lỗ hàng năm cho các cty này, trong năm thuận lợi nhất, lời 6% trên doanh số.

Trong năm như năm nay, tổng cộng các cty, tập đoàn quốc doanh cho dù là huế vốn, thì vẫn lỗ tiền lời 25% doanh số, tức 25% của 38% GDP, = 9,5% GDP = 8,55 đến 10,1 tỉ USD.

Tính ra tiền VN là vào khoảng 180 ngàn tỉ đến 210 ngàn tỉ đồng, chỉ để phụ cấp cho các cty, tập đoàn quốc doanh khỏi lỗ mất vốn trong năm rồi, cho dù họ kinh doanh huề vốn. Thực tế, họ có thể lỗ hàng mấy chục % vốn.

CP VN không còn cách nào khác, ngoài việc in ra ít nhất 200 ngàn tỉ đồng năm nay cho các cty, tập đoàn quốc doanh để họ trả TIỀN LỜI cho các ngân hàng, để tránh việc sụp đổ HỆ THỐNG ngân hàng.


Tái cấu trúc nền kinh tế: Đơn đã kê, bệnh nhân có chịu uống thuốc?

http://www.tinkinhte.com/viet-nam/phan-tich-du-bao/tai-cau-truc-nen-kinh-te-don-da-ke-benh-nhan-co-chiu-uong-thuoc.nd5-dt.107924.113121.html


Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền - TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright lý giải vì sao Việt Nam thiếu các chính sách tốt.

Ông Anh cho biết cho đến nay, chưa thể có sự thống nhất về mô hình tăng trưởng tốt nhất cho Việt Nam vì đây là một vấn đề rất rộng và phức tạp.

Hơn nữa, tái cấu trúc và thay đổi mô hình tăng trưởng mới chỉ được thảo luận từ sau giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô 2007 - 2008.


TS. Vũ Thành Tự Anh
TS Vũ Thành Tự Anh: So với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trong giai đoạn phát triển tương đương, tăng trưởng của Việt Nam hiện đắt gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi về đầu tư. 
Ảnh: Vietnamnet

Tuy nhiên, giới nghiên cứu đã tiến gần tới sự đồng thuận về những khiếm khuyết nội tại, có tính cố hữu của nền kinh tế Việt Nam. Nếu như trước đây người ta thường tìm cách biện minh cho các điểm yếu đó thì bây giờ chúng đã được chấp nhận như những thực tế phải sửa đổi.

Gồm những điểm yếu nào, thưa ông?

- Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.

Điều này dẫn đến một số hệ quả như đã thấy trong giai đoạn bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế gần đây.

Thứ nhất là nền kinh tế kém hiệu quả. Số đơn vị đầu tư cần thiết để tạo ra một điểm phần trăm tăng trưởng GDP (tức là hệ số ICOR) của nền kinh tế tăng rất nhanh, từ 3 vào đầu những năm 1990 lên trên 6 mấy năm gần đây.

Như vậy, so với Nhật Bản, Hàn Quốc và ngay cả Trung Quốc trong giai đoạn phát triển tương đương, tăng trưởng của Việt Nam hiện nay đắt gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi về đầu tư. 

Thứ hai là nguy cơ thường trực về bất ổn vĩ mô. Mô hình tăng trưởng hiện nay chạy theo chiều rộng (chủ yếu dựa vào tăng vốn) mà không theo chiều sâu (không cải thiện được năng suất).

Hệ quả là để tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam cần rất nhiều đầu tư, khiến tín dụng tăng theo. Nhưng do nền kinh tế kém hiệu quả nên kết cục tất yếu là lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai lớn.
Thứ ba là một số nhóm đặc quyền đặc lợi cản trở cải cách. Những cải cách quan trọng và thành công nhất của Việt Nam kể từ Đổi mới chủ yếu liên quan tới khu vực nông nghiệp và dân doanh mà chưa đụng chạm nhiều tới những khu vực được hưởng đặc quyền đặc lợi, nhất là những DNNN lớn.

Những DN này được hưởng vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, được ưu tiên tiếp cận các nguồn tài nguyên khan hiếm như đất đai và tín dụng nhờ vào vai trò chủ đạo (có tính mặc nhiên) của chúng trong các ngành kinh tế trọng yếu.

Khi không chịu áp lực cạnh tranh từ thị trường và giám sát chặt chẽ từ nhà nước, các DN này đầu tư ào ạt và dàn trải để mở rộng “đế chế” của mình mà không quan tâm đến hiệu quả vì họ biết rằng nếu có thua lỗ chăng nữa thì nhà nước sẽ cứu.

Không những thế, để bảo vệ quyền lợi của mình, các DN này có thể còn cản trở nhiều cải cách hướng đến một nền kinh tế thị trường cạnh tranh bình đẳng và hiệu quả hơn. Khu vực dân doanh vì thế cũng không thể phát triển dù rất năng động và đầy tiềm năng.

Bàn cờ kinh tế bị chia cắt

Theo ông, cuộc hội thảo do Ủy ban Kinh tế Quốc hội và Trường ĐH Kinh tế Quốc dân tổ chức mới đây có đưa ra được giải pháp khắc phục điểm yếu cơ bản này không?

- Đã có một số ý kiến rất đích đáng được nêu tại hội thảo.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng “thay đổi cần bắt đầu từ cái đầu”, tức là nếu nhận thức và tư duy mà không thay đổi thì không thể cải cách được.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng đồng tình và nói thêm rằng đổi mới tư duy cần xuất phát từ cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước. GS Võ Đại Lược khẳng định nếu vẫn giữ khu vực nhà nước làm chủ đạo thì không thể tái cấu trúc nền kinh tế.

GS Nguyễn Quang Thái cho rằng đổi mới thể chế là điều kiện tiên quyết để có thể đưa nền kinh tế Việt Nam tiến lên. Còn TS Nguyễn Đình Cung, người chủ trì đề án tái cấu trúc nền kinh tế, nói tái cấu trúc không thuần túy là vấn đề kinh tế mà thực chất là một vấn đề kinh tế - chính trị.

Thế còn quan điểm của ông?

- Một nguyên lý cơ bản của kinh tế học là hành vi của con người bị chi phối bởi các động cơ và khuyến khích, mà những động cơ và khuyến khích này lại được quy định bởi hệ thống thế chế.



Mô tả ảnh.
Nguồn: Số liệu về vốn, doanh thu và lao động lấy từ Báo cáo giám sát tập đoàn, tổng công ty nhà nước của Ủy ban Kinh tế Quốc hội (2009). Số liệu GDP là của năm 2008 lấy từ Tổng cục Thống kê, trong đó khu vực nhà nước bao gồm các DNNN và các hoạt động phi kinh doanh (như quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao v.v...).

Thể chế ở đây được hiểu một cách rộng rãi bao gồm những quy tắc thành văn (hiến pháp, luật, quy định v.v...), những quy tắc không thành văn (văn hóa, phong tục, tập quán v.v...), và những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.

Một hệ thống thể chế tốt sẽ giúp thu hút người hiền tài vào khu vực công và góp phần tăng hiệu quả, hiệu lực cho những chiến lược, chính sách của nhà nước, mà đây chính là điều chúng ra đang thiếu.
Hãy hình dung nền kinh tế Việt Nam như một bàn cờ. Chia theo cột dọc là 22 bộ và cơ quan ngang bộ. Chia theo hàng ngang là 63 tỉnh thành. Chia theo đường chéo là mười mấy tập đoàn kinh tế nhà nước, vì các tập đoàn hoạt động đa ngành ở nhiều địa phương khác nhau. Bàn cờ kinh tế đã bị chia cắt thành rất nhiều mảnh nhỏ.

Sẽ không có gì đáng lo ngại nếu mỗi mảnh nhỏ đều được điều tiết và bảo đảm có sự cạnh tranh lành mạnh. Vấn đề ở nước ta là các mảnh nhỏ này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Mỗi mảnh nhỏ này là một “nền kinh tế” và những người có quyền lợi sẽ cố hết sức để bảo vệ nó như bảo vệ thành trì của mình.
Điều này đã, đang và sẽ tiếp tục phá hỏng hoàn toàn chiến lược và quy hoạch tổng thể, dù chiến lược và quy hoạch này đúng đắn đến đâu đi chăng nữa.

Tỉnh nào cũng muốn có sân bay, cảng biển, các KCN và khu kinh tế mở đua nhau mọc lên bất chấp hiệu quả kinh tế. Đất rừng bị cho thuê rẻ vô tội vạ. Các nhà máy thủy điện mọc lên như nấm ở miền Trung và Tây Nguyên. Các tập đoàn đua nhau mở ngân hàng, lập công ty chứng khoán.

Không chỉ bị giới hạn về không gian, tầm nhìn chính sách còn bị giới hạn về thời gian do “tư duy nhiệm kỳ”. Thực chất, “tầm nhìn” của mỗi nhiệm kỳ không phải là 5 năm mà chỉ còn 3 năm vì năm đầu tiên và năm cuối cùng người ta không làm được bao nhiêu.

Khi tầm nhìn chính sách bị giới hạn cả về không gian và thời gian, không những thế, khi các “nền kinh tế nhỏ” phải cạnh tranh với nhau để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của mình thì chúng sẽ phá vỡ hoàn toàn các chính sách tổng thể. Đây thực sự là vấn đề lớn, là lý do chính tại sao chúng ta thiếu chính sách tốt.

Cải cách tập đoàn: Bài học từ Trung Quốc

Giải quyết những khuyết tật này như thế nào?
- Đây là câu hỏi lớn, không thể trả lời thỏa đáng trong phạm vi một bài phỏng vấn. Tôi nghĩ cần xuất phát từ một sự đồng thuận cơ bản, đó là nền kinh tế của chúng ta vẫn còn lạc hậu và đang kém hiệu quả, vì vậy cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn.

Đề án tái cấu trúc nền kinh tế do CIEM - Bộ KH&ĐT thực hiện là bước đi cần thiết và đúng hướng.

Để tái cơ cấu thì phải nhận dạng được những “méo mó” quan trọng nhất của nền kinh tế, mà đầu tiên là tình trạng phân bổ và sử dụng nguồn lực kém hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty và các siêu dự án đầu tư công. Khắc phục được tình trạng “méo mó” này sẽ là tiền đề quan trọng để giải quyết các trục trặc có tính cơ cấu khác.

Về phương diện cải cách các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh nghiệm của Trung Quốc có thể hữu ích cho Việt Nam.

Từ sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997 - 1998, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã hiểu ra rằng sự tồn tại của những DNNN có sức mạnh kinh tế và thế lực chính trị nhưng lại không bị điều tiết tất yếu sẽ dẫn tới sự bành trướng, độc quyền và lũng đoạn.

Vì vậy, để cải cách các tập đoàn này, phải thay đổi cơ chế giám sát và buộc chúng phải cạnh tranh. Trung Quốc đã thực hiện khá tốt điều này theo ba cách.

Thứ nhất là ép các tập đoàn phải niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế Hồng Kông, London... Do vậy buộc chúng phải minh bạch về tài chính theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, các DNNN phải cạnh tranh quyết liệt với nhau và với các DN nước ngoài trên cả thị trường nội địa và quốc tế.

Thứ hai, khi buộc phải niêm yết và có tính cạnh tranh thì các DN này sẽ phải thuê các chuyên gia quản trị được đào tạo ở nước ngoài.

Các chuyên gia này sẽ mang tới nhiều thay đổi quan trọng về tư duy, quản trị, giúp kết nối DN Trung Quốc vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với khát vọng bá chủ thế giới và vì lợi ích chung của dân tộc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chấp nhận “thuê ngoài thể chế”, miễn là điều này mang tới sự cải thiện hiệu quả.

Điều thứ ba, cũng rất quan trọng, khi đã có một số hình mẫu thành công thì cả hệ thống dần dần điều chỉnh theo, không phải để chống lại cái mới mà để thu nạp, nhân rộng nó.

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy thực ra việc “kê đơn” đúng không quá khó, điều thực sự khó là làm thế nào để bệnh nhân chịu uống thuốc, mà điều này lại phụ thuộc vào ý chí của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là những nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước.

Bước đầu tiên trong quá trình cải cách các tập đoàn nhà nước mà Việt Nam có thể thực hiện là công bố báo cáo tài chính của các tập đoàn theo chuẩn mực quốc tế.

Khi được ưu tiên sử dụng các nguồn lực khan hiếm của đất nước và nhận tiền đầu tư từ ngân sách nhà nước, chính xác hơn là từ tiền đóng thuế của người dân, các tập đoàn này phải chịu trách nhiệm giải trình trước công chúng.

Đồng thời, họ phải tự chứng minh mình xứng đáng với vai trò chủ đạo, thực sự là “quả đấm thép” bằng cách tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, cạnh tranh thành công trên cả thị trường nội địa và quốc tế.

  • Lê Nhung//VietNamNet