Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

"Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường

http://vn.news.yahoo.com/


"Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, một cá nhân đã sở hữu nhiều hơn số vốn theo quy định, gây ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức tín dụng. Thủ tướng đã chỉ đạo lực lượng chức năng đặt trọng tâm vào nhóm tội phạm liên quan tới hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các hành vi thâu tóm" - đó là khẳng định của Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam tại cuộc họp báo chiều 5.9 tại Hà Nội.


Sacombank, ngân hàng bị “sáp nhập” trên thị trường tài chính VN trong thời gian vừa qua - Ảnh: Diệp Đức Minh

Không chỉ thâu tóm ngân hàng (NH), "vòi bạch tuộc" còn vươn sang thị trường vàng, thị trường bất động sản... "Ma trận" sở hữu chéo tạo ra những cuộc thôn tính đình đám nhưng "ông chủ" thật sự luôn bí ẩn.

Quyền lực giấu mặt
 

Bản chất của tội phạm thâu tóm ngân hàng
Trao đổi với báo chí về khái niệm tội phạm thâu tóm NH trong cuộc họp báo ngày 5.9, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam khẳng định đó chỉ là cách nói, còn bộ luật Hình sự không ghi chính xác câu chữ loại tội phạm này. Tuy nhiên, bản chất của tội phạm thâu tóm NH nằm trong quy định tội kinh doanh trái phép, đầu cơ... Tội này theo ông Đam có thể nhằm mục tiêu thâu tóm các NH trái pháp luật.

Nhằm tránh việc cá nhân sở hữu NH dẫn đến thao túng, gây đổ vỡ như đã từng xảy ra ở một số nước trong khu vực trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, luật Tổ chức tín dụng quy định, cá nhân sở hữu tối đa không quá 5% vốn điều lệ trong một NH. Với tỷ lệ này, có thể khẳng định, không cổ đông cá nhân nào có thể "sai khiến" NH. Nhưng thực tế đã chứng minh, nhiều NH thương mại cổ phần (TMCP) hiện nay là "sân sau" của những cổ đông lớn.

Làm thế nào để các cá nhân này sử dụng NH như một công cụ rót vốn cho những dự án, những phi vụ riêng của mình, để thực hiện các vụ thâu tóm với lượng vốn khổng lồ như đã xảy ra trong thời gian qua? Đó là vì họ đã gián tiếp sở hữu NH. Cụ thể, "chẻ nhỏ" tỷ lệ sở hữu bằng cách chuyển sang một công ty đầu tư tài chính do họ lập ra. Công ty này mua CP của NH và trở thành cổ đông lớn của NH. Đây là con đường đưa các cá nhân trở thành cổ đông lớn, thậm chí là ông chủ của NH. Điều này lý giải vì sao, rất nhiều cá nhân có quyền lực cực lớn trong NH dù tỷ lệ sở hữu trực tiếp rất nhỏ.

Sau khi hoàn tất việc trên, các công ty đầu tư tài chính sử dụng NH như một công cụ rót vốn vào "sân sau" của họ thông qua các hợp đồng cho vay ủy thác (Thanh Niên đã có bài Bí ẩn khoản phải thu khác phân tích về vấn đề này). Đặc biệt, các công ty này tiếp tục đi mua CP ở các NH khác, rồi lại lập ra công ty đầu tư tài chính để sử dụng vốn của các NH này qua con đường ủy thác đầu tư... Cứ như vậy, "ma trận" sở hữu rối rắm này tạo thành các "vòi bạch tuộc" có sức mạnh tài chính cực lớn để thực hiện việc thâu tóm, nắm quyền kiểm soát ở các NH, các doanh nghiệp khác.



 


Không chỉ thâu tóm ngân hàng, "vòi bạch tuộc" còn vươn sang thị trường vàng, thị trường bất động sản... "Ma trận" sở hữu chéo tạo ra những cuộc thôn tính đình đám nhưng "ông chủ" thật sự luôn bí ẩn



Đơn cử như trong vụ sáp nhập NH Sacombank cách đây vài tháng, các cổ đông lớn gồm Công ty CP đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu, Công ty CP đầu tư Sài Gòn Exim và ông Trần Phát Minh chỉ lộ diện khi Ủy ban chứng khoán Nhà nước có văn bản xử phạt hành chính. Điều đáng nói là quan hệ chằng chịt của 3 cổ đông này.

Ông Trần Phát Minh trước đó là Phó chủ tịch HĐQT của Eximbank nhưng cũng là Chủ tịch HĐQT của Công ty đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu. Công ty Sài Gòn Á Châu cũng mua CP của Eximbank dù theo giấy phép kinh doanh, công ty này không có lĩnh vực đầu tư tài chính. Rồi ông Minh và Sài Gòn Á Châu cùng Eximbank đi “sáp nhập” Sacombank và hiện tại, ông Trần Phát Minh là Chủ tịch HĐQT của NH TMCP Kiên Long. Rõ ràng, nhờ sở hữu chéo, họ đã dồn phiếu cho một người để làm một cuộc “sáp nhập” thành công. Việc này thể hiện rõ nhất, quyền lực trung gian của các công ty đầu tư tài chính. Hay nói chính xác là quyền lực của chính các ông chủ công ty này, quyền lực cá nhân của họ ở các NH.

Thao túng vàng, bất động sản
 

Gây rối loạn thị trường
Theo một chuyên gia tài chính, không chỉ NH mà hầu như các tổng công ty nhà nước đều có loại hình công ty đầu tư tài chính để quản lý phần vốn của các công ty con bên dưới, thậm chí khi CP hóa họ cũng không bàn giao vốn về cho SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước) mà vẫn giữ để quản lý vốn của các công ty con. Do không bị quản lý bởi bất cứ luật chuyên ngành nào nên các công ty này đầu tư bừa bãi, thiếu hiệu quả, gây rối loạn thị trường. Điển hình nhất là vụ Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an mới bắt nguyên Giám đốc và Trưởng phòng Tín dụng của Công ty TNHH MTV Tài chính cao su (thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam) về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước... ” do đầu tư thua lỗ vì đầu tư ngoài ngành và nợ ngập đầu. Chỉ cần tìm kiếm trên mạng sẽ thấy, các công ty đầu tư này được thành lập nhan nhản. Nếu không nhanh chóng có giải pháp thì hậu quả khó lường.

Không dừng lại ở thị trường tài chính, các công ty đầu tư tài chính này đã và đang vươn "vòi bạch tuộc" sang thị trường vàng, ngoại tệ, bất động sản. Liên tục mấy năm gần đây, thị trường đã chứng kiến nhiều thời điểm, giá vàng trở nên điên loạn và câu hỏi "ai thao túng giá vàng" chỉ được trả lời chung chung, đó là giới đầu cơ. Nhưng giới đầu cơ nào đủ vốn, đủ tiềm lực để xoay chuyển giá trên thị trường khi mỗi phiên có tới vài ngàn, thậm chí hàng chục ngàn lượng vàng được giao dịch? Chỉ có công ty đầu tư tài chính với nguồn vốn cực lớn nhờ sự "bơm" vốn từ phía sau của các NH mới đủ sức làm việc này.

Mọi chuyện càng rõ ràng hơn sau khi ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt thì 3 công ty mà ông trùm này sở hữu đều có hoạt động liên quan đến bất động sản, du lịch và vàng bạc đá quý. Hệ quả của sự thao túng này là giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới từ 1-3 triệu đồng gây rủi ro cho người mua; tạo những cơn khan hiếm giả khiến NHNN phải cho nhập khẩu vàng dù lượng vàng trong nước rất lớn, áp lực lên thị trường ngoại tệ từ việc nhập khẩu vàng... Sự rối loạn này đã tạo ra những cơ hội kiếm lợi cực lớn cho các công ty này.


Tương tự đối với thị trường bất động sản. Một chuyên gia đang thực hiện xử lý bán tài sản thế chấp cho một số NH cổ phần tiết lộ, rất nhiều dự án thế chấp là từ các công ty đầu tư tài chính. Các công ty này cho vay dự án thông qua nguồn vốn ủy thác của NH. Sau đó họ lại mang chính các dự án này quay trở lại thế chấp NH lấy vốn mua CP ở các dự án khác. Rồi lại lấy "dự án khác" thế chấp để vay tiếp... Nên một phần không nhỏ nợ xấu của các NH cổ phần hiện nay là từ các công ty tài chính. Đó là lý do, các NH đã và đang tạo áp lực mua nợ xấu, thực chất là giải vây cho chính các ông chủ của họ. "Lĩnh vực bất động sản là lĩnh vực đầu tư có điều kiện nhưng các công ty đầu tư tài chính sử dụng vốn ủy thác từ NH, mua CP và làm chủ các công ty một cách dễ dàng" - chuyên gia này nói.

Công ty đầu tư tài chính này "đẻ" ra công ty khác, công ty khác liên kết với NH này, doanh nghiệp nọ... để tiếp tục sản sinh ra các công ty cháu, chắt. “Vòi bạch tuộc” sở hữu này càng dài, càng chồng chéo thì vốn từ các NH chảy ra qua đường này càng lớn, các thương vụ thâu tóm, lũng đoạn càng nhiều. Nếu phanh phui tất cả nguồn vốn đã chảy theo hệ thống chân rết "sân sau" nói trên, vốn thực sự của các NH còn lại bao nhiêu? Đây là vấn đề cần được làm rõ nếu thực sự muốn tái cấu trúc hệ thống NH.

3 loại sở hữu chéo đáng lo ngại trong Ngân hàng
1. Sở hữu của các NHTM nhà nước tại các NH TMCP: Hiện có gần 8 NH TMCP có quan hệ CP với 5 NHTM nhà nước. Tiêu biểu là Vietcombank hiện đang sở hữu 11% tại NH Quân đội, 8,2% tại Eximbank, 4,7% tại NH Phương Đông, 5,3% tại NH Sài Gòn.
2. Sở hữu lẫn nhau giữa các NH TMCP: Hiện tượng này khá phổ biến ở Việt Nam. Hiện có ít nhất 6 NH TMCP có cổ đông là một NH TMCP khác. Chẳng hạn, Eximbank hiện sở hữu 10,6% cổ phần tại Sacombank, 8,5% cổ phần tại NH Việt Á.
3. Sở hữu NH TMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân: Hiện có khoảng gần 40 doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các NH TMCP. Hầu hết các tập đoàn nhà nước đều có các công ty tài chính. Mối quan hệ giữa NH TMCP với các tập đoàn tư nhân ngày càng trở nên phức tạp. Nhiều NH có thể được sở hữu bởi rất nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia đình vốn đồng thời lãnh đạo ở các doanh nghiệp khác.
Nguồn Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

Nguyên Hằng

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

Loay hoay với tái cấu trúc kinh tế

http://sgtt.vn/Goc-nhin/163564/Loay-hoay-voi-tai-cau-truc-kinh-te.html


Thống nhất với nhận định đầu tư công đang là điểm nóng của nền kinh tế hiện nay, song các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế tham dự hội thảo “Tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước” tổ chức hôm qua (3.5) tại Hà Nội vẫn chưa đưa ra được giải pháp, kiến nghị có tính đột phá.
Đầu tư công: vòng xoáy nợ nần

Đầu tư công rất kém hiệu quả, thất thoát lên đến 20 – 30%, chi phí cao, như đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương chưa sử dụng đã hỏng. 
 Theo TS Vũ Đình Ánh, suốt giai đoạn 1995 – 2011, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) trong tổng vốn đầu tư công liên tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 40%. Đặc biệt, những năm 2005 – 2009 và 2011, tỷ trọng này lên trên 50%, thậm chí trên 60%. Đầu tư công tăng tỷ lệ thuận với nợ công. Tính đến cuối năm 2011, nợ công chiếm 54,6% GDP, trong đó nợ Chính phủ là 43,6% GDP và nợ nước ngoài chiếm 41,5% GDP – tương đương 50 tỉ USD.


“So với mức độ nợ công chung của các nước mới nổi và đang phát triển thì nợ công của Việt Nam có quy mô lớn hơn và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng do cả nguyên nhân thâm hụt ngân sách lẫn vay nợ để đầu tư”, ông Ánh nhận xét. Nếu theo chuẩn quốc tế thì thâm hụt NSNN đã tăng vọt từ dưới 10.000 tỉ đồng năm 2006 lên hơn gấp đôi vào năm 2007, hơn tám lần vào năm 2009 và có giảm nhẹ trong năm 2010 xuống còn 3,03% GDP.

Để bù đắp bội chi, Việt Nam buộc phải vay trong nước và vay nước ngoài. Do số nợ vay được sử dụng vào những mục đích không sinh lợi nên toàn bộ số chi trả nợ gốc phải trông vào đợt phát hành mới – như một hình thức đảo nợ, đặc biệt là nợ vay trong nước. NSNN Việt Nam đang đứng trước vòng xoáy nợ nần với quy mô nợ Chính phủ ngày càng lớn. Theo tính toán của ông Ánh, Việt Nam dành khoảng 15% tổng chi NSNN (tương ứng 40.000 – 45.000 tỉ đồng giai đoạn 2006 – 2010) cho trả nợ và con số này tiếp tục gia tăng trong những năm tới do đến hạn trả nợ cũng như biến động tỷ giá hối đoái.

Tuy nhiên, khi so sánh mối quan hệ giữa đầu tư công – nợ công giai đoạn 2001 – 2011, ông Ánh đã chỉ ra kết quả đáng kinh ngạc là so với GDP (giá thực tế) thì đầu tư công có xu hướng giảm rõ rệt trong khi nợ công lại có xu hướng tăng mạnh và nợ nước ngoài cũng vậy. “Vậy thì một phần nợ công đã chuyển đi đâu, phải chăng là sang tiêu dùng chứ không hẳn cho đầu tư phát triển?”, ông Ánh đặt câu hỏi.
Khi so sánh mối quan hệ giữa đầu tư công – nợ công giai đoạn 2001 – 2011, TS Vũ Đình Ánh đã chỉ ra kết quả đáng kinh ngạc là so với GDP (giá thực tế) thì đầu tư công có xu hướng giảm rõ rệt trong khi nợ công lại có xu hướng tăng mạnh và nợ nước ngoài cũng vậy. “Vậy thì một phần nợ công đã chuyển đi đâu, phải chăng là sang tiêu dùng chứ không hẳn cho đầu tư phát triển?”, ông Ánh đặt câu hỏi.
Ông Ánh cũng chỉ ra rằng với cơ cấu chi thường xuyên chiếm trung bình 60 – 65% tổng chi NSNN, để tăng chi cho đầu tư phát triển, Việt Nam không có cách nào khác ngoài tăng quy mô của tổng thu NSNN – hiện xấp xỉ 30% GDP, một mức đã khá cao.


Giáo sư Nguyễn Văn Nam lo ngại, để tăng đầu tư công, hiện Chính phủ chỉ có thể thực hiện bằng hai cách: tăng thu NSNN, nghĩa là diệt doanh nghiệp, diệt sản xuất, diệt nền kinh tế; hoặc phải tăng vay nợ, nghĩa là thêm gánh nặng nợ nần. “Trong khi đó, với cách thức quản lý như hiện nay, nợ công của chúng ta chỉ ở mức 30% GDP đã đủ chết, đừng nói tới 50 – 60% GDP như hiện nay. Không thể dựa vào “nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn” theo chuẩn của các nước để vung tay vay nợ, vung tay đầu tư, vung tay chi tiêu như hiện nay được. Muốn tăng đầu tư phát triển, buộc phải giảm chi tiêu ngân sách”, ông Nam nhấn mạnh.
Ba mũi nhọn là quá nhiều?

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh phân tích: đầu tư công ở Việt Nam tập trung vào đầu tư cho kinh tế với tỷ trọng rất cao, xấp xỉ 75 – 76% trong khi tỷ lệ đầu tư vào các lĩnh vực xã hội lại thấp và có xu hướng giảm dần, từ mức 17,6% năm 2000 xuống còn 15,2% năm 2009, trong đó đầu tư cho khoa học, giáo dục và đào tạo giảm từ 8,5% xuống còn 5,1%. Theo ông Doanh, đầu tư công là sản phẩm của cơ chế xin cho, trong đó cả hai phía “xin” và “cho” đều có lợi ích chung và lợi ích nhóm, có cả hiện tượng “gửi dự án”. Hệ quả là đầu tư công rất kém hiệu quả, thất thoát lên đến 20 – 30%, chi phí cao, như đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương chưa sử dụng đã hỏng, nhiều công trình đầu tư tiền tỉ không được sử dụng….

Để tái cơ cấu kinh tế, theo GS.TSKH Võ Đại Lược, viện Kinh tế và chính trị thế giới, cần phải thay đổi cả quan điểm về kinh tế – chính trị. Đại hội Đảng xác định kinh tế Nhà nước làm chủ đạo trong khi chỉ riêng lĩnh vực ngân hàng, năm ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối đã chiếm đến 70% thị phần ngân hàng. Tương tự là khối doanh nghiệp nhà nước. Ông Lược nói: “Những gì liên quan đến khái niệm “công”, “Nhà nước” hiện chiếm thị phần quá lớn. Chúng ta quyết tâm thay đổi, nhưng lại vẫn trên nền quan điểm cũ thì rất khó hiệu quả”.

Còn theo góc nhìn của phó chủ nhiệm uỷ ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Phúc, chương trình tái cơ cấu cả một nền kinh tế lại được giao cho từng bộ, ngành thực hiện đề án nên cuối cùng chỉ là những mảnh ghép rời rạc. Thực tế cũng đã cho thấy không có sự liên kết nào giữa các đề án tái cơ cấu theo ba mũi nhọn được ba cơ quan xây dựng là ngân hàng Nhà nước, bộ Tài chính và bộ Kế hoạch và đầu tư.

Trong khi đó, ông Đặng Xuân Thanh, phó viện trưởng viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, lại lo ngại về khả năng, hiệu quả thực hiện đề án tái cấu trúc nền kinh tế bởi mục tiêu đặt ra quá lớn khi nhắm tới 13 lĩnh vực với ba khâu đột phá, trong đó liên quan đến 11 tập đoàn kinh tế lớn, hơn 50 ngân hàng thương mại, 64 tỉnh, thành phố… Ông Thanh so sánh, chương trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện mười năm nay mà vẫn “chưa đâu vào đâu”; hay như việc tái cơ cấu tập đoàn Vinashin bốn năm nay vẫn dở dang.

Bài học thành công từ công cuộc đổi mới năm 1986 được ông Thanh dẫn lại: chúng ta khi đó bắt đầu từ khu vực nông nghiệp, bằng cách giải phóng sản xuất, giải phóng tư tưởng, từ đó tạo ra nguồn lực, sức mạnh để tái cơ cấu cả nền kinh tế. Do vậy, theo ông Thanh, chúng ta chỉ nên chọn ra một tập đoàn, hoặc một địa phương để thí điểm thực hiện tái cơ cấu, nhưng phải làm quyết liệt. “Có đột phá là đúng rồi nhưng có tới ba lĩnh vực đột phá là quá nhiều, sức đâu mà làm?”, ông Thanh đặt câu hỏi.

Thảo Nguyễn
.

“Quyền lực ngầm”

http://vn.news.yahoo.com/quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%B1c-ng%E1%BA%A7m-023600381.html


Xen giữa phiên chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình hôm qua, 21.8, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã phải nhắc nhở người đứng đầu ngành ngân hàng về các chức danh của một nhân vật thuộc dạng chóp bu trong giới tài phiệt ngân hàng vừa xộ khám: bầu Kiên.

>> Bé 1,5 tuổi bỏng nặng do ngã vào nồi cháo
>> Hố ga đã có nắp đậy

Nếu không có đơn gửi đến công an thì cái kiểu “kinh doanh trái phép” đầy quyền lực của bầu Kiên bao giờ mới được ngành ngân hàng phát hiện? 

Cụ thể, Thống đốc Bình có phân trần là các chức vụ “phó chủ tịch HĐQT ACB” rồi “hội đồng sáng lập” mà bầu Kiên đặt ra không có ý nghĩa gì cả, vai trò của bầu Kiên rất mờ nhạt trong các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đang ồn ào trong chiến dịch tái cơ cấu các ngân hàng thương mại của Chính phủ. Thế nhưng Phó Chủ tịch Kim Ngân thì lại bảo các chức danh đó không có vai trò gì, không ý nghĩa gì sao NHNN lại cứ để điều đó tồn tại mãi, sao không ra tay xử lý dứt điểm ngay để dư luận đỡ hiểu nhầm?

Thực sự thì về lý, một thống đốc NHNN không thể đủ thì giờ quan tâm đến từng chức danh của từng cá nhân có vốn góp vào các NHTMCP nên nói ông Bình phải chịu trách nhiệm thì cũng là khiên cưỡng. Thế nhưng trong giới tài phiệt kinh doanh ngân hàng thì chỉ có 3 - 4 “ông bầu” nổi đình nổi đám, trong đó có bầu Kiên. Sự nổi đình nổi đám này không chỉ là các phát ngôn, hành động của bầu Kiên trong lĩnh vực đầu tư bóng đá mà nó hiển hiện ở ngay hoạt động của ba công ty đầu tư tài chính có đăng ký kinh doanh tại Hà Nội (trong đó có ít nhất hai công ty có tên liên quan đến ACB hoặc Á Châu) mà bầu Kiên giữ vị trí chủ tịch HĐQT.

Trong văn bản thông báo vắn tắt về quyết định khởi tố, bắt giam bầu Kiên, bộ Công an chỉ nói ngắn gọn là ông Kiên có dấu hiệu phạm tội “kinh doanh trái phép” trong việc sử dụng ba công ty con nói trên vào các thương vụ chuyển nhượng vốn… 

Trả lời chất vấn, Thống đốc có thừa nhận về sự yếu kém của hệ thống thanh tra, giám sát của NHNN. Mức độ yếu kém này cụ thể như thế nào, yếu về số lượng hay về chất lượng, không thấy Thống đốc báo cáo cụ thể song nhiều người tỏ ra rất ngạc nhiên về tuyên bố này. Bởi mới cách đây chưa đầy năm, những hành vi hết sức đơn lẻ giữa các cá nhân với nhau như việc thỏa thuận lãi suất, việc mua bán ngoại tệ lẻ hay việc vận chuyển vài ký vàng cũng bị phát giác, được Thống đốc yêu cầu trừng trị cực kỳ nghiêm khắc, thì việc bầu Kiên dùng các chức danh “không có ý nghĩa” để hoạt động trong giới ngân hàng lẽ nào NHNN lại chẳng hay?

Vụ bắt giữ bầu Kiên được bắt đầu từ lá đơn tố giác gửi đến bộ Công an. Nếu không có đơn như thế gửi đến công an thì cái kiểu “kinh doanh trái phép” đầy quyền lực của bầu Kiên bao giờ mới được ngành ngân hàng phát hiện?

Thep Pháp Luật TP.HCM

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Tại sao giới đầu tư chán Việt Nam?

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2012/08/120802_vn_less_investment.shtml


Con số thống kê Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam vừa công bố cho thấy đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào nước này trong bảy tháng đầu năm chỉ ở mức 8,03 tỷ đô la, bằng 66,9% so với cùng kì năm 2011.

Thị trường Việt Nam
Việt Nam đang lộ yếu kém về đầu tư, công nghệ và quản trị
Sự suy giảm từ 19,9 tỷ đôla năm 2010 xuống con số đáng thất vọng như vừa nêu trong lúc FDI toàn cầu tăng từ 1,24 đến 1,6 ngàn tỷ trong cùng thời gian cho thấy FDI tại Việt Nam đang đi ngược chiều với xu hướng thế giới.

Sự tụt hạng đầu tư của Việt Nam ở châu Á cùng thời gian cũng chứng minh môi trường kinh doanh nước này đang mất điểm trong mắt giới đầu tư, so với nước cùng khu vực như Indonesia, tăng từ vị trí 21 lên 9 một cách ngoạn mục.

Vậy giới quan sát đang cho rằng những lí do chính nào ngoài lí do 'suy thoái kinh tế toàn cầu' được 'ưa chuộng' của chính phủ Việt Nam khiến giới đầu tư nước ngoài trở nên ngán ngẩm việc đầu tư ở Việt Nam đến vậy?

Đăng kí nhiều, không sử dụng hết

Thông số FDI được đăng kí tại Việt Nam, thường chênh lệch xa với lượng FDI được chính thức đưa vào sử dụng vì tốc độ giải ngân yếu kém.

Việc đưa vốn đầu tư vào chính thức sử dụng tại Việt Nam là một thử thách đối với tập đoàn nước ngoài (FIEs) vì các thủ tục giấy tờ cũng như các điều khoản qui định đầu tư rắc rối, không rõ ràng.

Các dự án lên đến hàng tỉ đôla thậm chí sau khi đã hoàn thành các thủ tục, vẫn phải đối mặt với công đoạn “khó nuốt nhất” của quy trình đầu tư: 'giải phóng mặt bằng', được quản lý bởi các chính quyền địa phương nghèo vốn.

Một ví dụ tiêu biểu trong thời gian gần đây nhất đó là dự án hợp tác đầu tư của tập đoàn thép Tata của Ấn Độ với Tập đoàn thép quốc gia Việt Nam.
"Doanh nghiệp Nhà Nước vẫn là nòng cốt của nền kinh tế trong chiến lược phát triển"
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Dự án 5 tỷ đô la đã phải nằm “bất động” trong bốn năm liền vì sự chậm chạp của tỉnh Hà Tĩnh trong việc giải phóng mặt bằng với lời bào chữa “không đủ ngân sách”.

Đây là lý do khiến phía Ấn Độ mất kiên nhẫn đến nỗi đích thân Thủ tướng Manmohan Singh phải “nhắc khéo” về dự án với Chủ tịch Trương Tấn Sang trong cuộc gặp năm 2011 tại New Dehi.

Kết quả là trong tháng 8, phía Việt Nam đã bắt Tata phải trích thêm một khoản 100 triệu đôla nữa để trả tiền giải phóng mặt bằng, gấp hơn ba lần so với 30 triệu đô la qui ước ban đầu, nhằm ‘thúc đẩy’ tiến trình dự án.

Lao động rẻ đã lỗi thời

Chủ tịch Trương Tấn Sang đã nhận được thông điệp từ Ấn Độ về vụ Tata đầu tư vào Hà Tĩnh

Kinh tế gia Raphael Cecchi của hãng phân tích đầu tư ONDD tại Bỉ nói trong một cuộc Bấm phỏng vấn với BBC rằng, một trong hai thế mạnh lớn nhất của Việt Nam đó là lực lượng lao động đông đảo với giá rẻ.
Tuy nhiên ngay cả ông và giới phân tích trên thế giới cũng thống nhất rằng, trước nhu cầu thị trường toàn cầu ngày càng tinh vi và thâm dụng vốn cũng như tốc độ tăng giá lao động trong nước nói riêng, thế mạnh này sẽ bị xói mòn rất nhanh.

Giới quan sát nói Việt Nam sẽ khó đón nhận những làn sóng FDI khổng lồ trong tương lai với đội ngũ lao động kém trình độ, chủ yếu bắt nguồn từ những bất cập trong nền giáo dục vốn thiếu sự tự do để cạnh tranh, chuyên môn hóa của nước này.

Một ví dụ cụ thể là vào năm 2011, Intel , hãng sản xuất chip điện tử hàng đầu của Mỹ, đã gặp trở ngại trong việc đầu tư vào Việt Nam khi số công nhân đủ trình độ tuyển dụng chỉ bằng một phần nhỏ số lượng yêu cầu.
Hãng Intel vào thời điểm đó đã gạt qua một bên lợi thế lao động giá rẻ của Việt Nam, tuyên bố rằng đó không phải là điều họ tìm kiếm.

Trong những năm trước, khi giá lao động Trung Quốc tăng nhanh, nhiều ý kiến đã cho rằng Việt Nam sẽ là điểm dừng chân tiếp theo của những nhà đầu tư muốn hướng về Châu Á.

Cho tới nay, Trung Quốc, với giá lao động tối thiểu cao hơn Việt Nam rất nhiều, vẫn là điểm dừng chân hàng đầu cho các tập đoàn công nghệ khổng lồ của thế giới như Samsung, Apple nhờ những nỗ lực nâng cao chất lượng lao động.

Họ đã đưa đội ngũ lao động cao cấp lên làm nòng cốt cho nền kinh tế trong lúc vẫn đảm bảo giá cả, chất lượng và năng suất sản xuất ở mức cạnh tranh so với thị trường lao động quốc tế từ rất sớm.

Điện cúp, đường tắc

Chính phủ Việt Nan quyết tâm duy trì vị trí ưu thế về chính sách cho doanh nghiệp nhà nước

Bài viết của kinh tế gia Geoffrey Cain trên tờ Foreign Policy (FP) trong tháng 7/2012 có đoạn:”Việt Nam của năm 2012 là xứ sở mà chính phủ ra quyết định xây dựng các công trình cảng ở những nơi kì quái hoặc đường xá không có ý nghĩa kinh tế nào.”

Vấn đề cơ sở hạ tầng không được đầu tư đúng nơi, đúng lúc và đúng mức độ đang là vấn đề gây quan ngại với giới đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là khi vấn đề mất điện và giao thông đình trệ có những ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Nhiều năm qua, các doanh nghiệp đặt xưởng sản xuất tại Việt Nam liên tục kêu ca là 'chới với' vì không có điện để sản xuất, nhất là trong thời điểm mùa hè, dẫn đến thiệt hại về cả năng suất cũng như chi phí sản xuất.
Báo chí nêu như với Samsung, vụ mất điện 10 phút đã có thể biến các sản phẩm dang dở thành 'phế thải', gây tốn kém lên đến hàng chục triệu đô la.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thì liên tục lên tiếng than lỗ vì thiếu nước, chi phí mua điện ngoài tăng cao, cũng như các nguồn điện chậm tiến độ như một phần các lí do cho vấn đề bất cập năng lượng.

Trong khi đó, EVN vẫn đầu tư vào các ngành không liên quan như ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản.

'Ngại' doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp Nhà Nước (DNNN), bị coi là trở ngại lớn nhất với sự phát triển của khu vực tư doanh, vốn được cho là nòng cốt và tương lai của nền kinh tế Việt Nam, mà còn là lá chắn nguồn FDI từ bên ngoài suốt nhiều năm qua.

Ngân hàng HSBC hôm 1/8 nói sai lầm lớn nhất của Việt Nam là tập trung 40% tổng sản lượng doanh thu quốc doanh (GDP) vào các tập đoàn nhà nước kém hiệu quả, tạo ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường nhưng lại đòi hỏi sự hỗ trợ khổng lồ để tiếp tục tồn tại.

Các doanh nghiệp này, bị các nhà đầu tư lên án là với số vốn lớn mạnh đã ra sức thao túng vị trí 'đầu tàu của ngành', chiếm thế độc quyền bằng cách mở rộng đa ngành để tạo khó khăn cho việc thâm nhập thị trường của các tập đoàn nước ngoài, ảnh hưởng đến mức FDI tiềm năng đổ vào Việt Nam những năm qua.

Trong cùng bài trên FP, Geoffrey Cain viết về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam: "Họ thật là một đám phiền toái, chẳng ai (nhà đầu tư nước ngoài) muốn dính vào họ."

Tuy nhiên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục khẳng định Doanh nghiệp Nhà Nước vẫn là nòng cốt của nền kinh tế trong chiến lược phát triển đất nước từ đây đến năm 2015.
"Họ thật là một đám phiền toái"
Geoffrey Cain
Có điều chính ông này là người bị dư luận lên án vì đã bỏ ngoài tai những cảnh báo của các chuyên gia về tác hại của mô hình DNNN nhiều năm trước khi Vinashin, Vinalines đổ vỡ.

Lạm phát: nỗi ám ảnh kinh hoàng

Lạm phát trong năm 2012 đã giảm xuống mức đáng kể, thế nhưng những dư âm và hậu quả của mức lạm phát lên đến 23% của năm 2011 vẫn còn tồn đọng trong nền kinh tế hiện tại và tâm lí các nhà đầu tư.
Một phần nguyên nhân cho tình trạng suy giảm lượng FDI trong năm 2012, đó là các biến động tâm lý của nhà đầu tư trong thời điểm một năm trước đó.

Trong bối cảnh lạm phát Việt Nam lên đến mức cao nhất Châu Á năm 2011, các khách hàng nước ngoài cũng như các công ty nước ngoài trở nên lãnh đạm hẳn với thị trường Việt Nam và tìm cách chuyển dần sang các nước lân cận trong suốt thời gian sau đó.

Nguyên nhân cho sự lãnh đạm đó là sự mất đi lợi thế cạnh tranh giá cả trong nước trước áp lực lạm phát khiến yêu cầu tăng lương của nhân viên, chi phí vật liệu, lãi suất cao ngất ngưởng và các ngân hàng đua nhau siết vốn.

Nguồn FDI vào ngành bất động sản trong cũng giảm xuống rõ rệt trước một thời gian dài chứng kiến sự sụp đổ của ngành này cùng những món nợ xấu còn tồn đọng ở thời điểm hiện tại.

Quan hệ VIệt Nhật

Những tiến triển trong quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước lân cận đang mở ra những nguồn FDI tiềm năng mới.

Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực rõ rệt trong việc hạ lạm phát, giới quan sát vẫn đang 'nín thở' theo dõi tốc độ giảm lãi suất của nước này bởi khả năng tái lạm phát nếu lãi suất được giàm không đúng mực.

Kinh tế gia Raphael Cecchni nhận đinh rằng, Việt Nam, trước nỗ lực giải quyết mức lạm phát đang phải hi sinh tăng trưởng thường niên và giá trị tiền đồng, vốn cũng là điều đang khiến các nhà đầu tư lo ngại rằng sẽ giảm độ hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.

FDI sẽ quay trở lại ?

Các động thái của Nhà nước Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy nỗ lực của phía chính quyền trong việc tái khẳng định tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Giới phân tích cho rằng, nỗ lực rõ rệt nhất, đó là việc tái ổn định kinh tế vĩ mô, thắt chặt tín dụng và hạ mức lạm phát một cách quyết liệt kể từ Nghị Định số 11 năm 2011.

Các đề án tái cơ cấu ngân hàng cũng như Doanh nghiệp nhà nước của chính phủ Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đang được đánh giá là có những tác động tích cực lên tâm lí đầu tư nước ngoài.

Vấn đề giải ngân trong báo cáo của Cục thống kê cũng được các chuyên gia cho là tốt hơn so với cùng kì năm ngoái, chứng tỏ sự tiến bộ trong công tác quản lí nguồn FDI.

Sự gia tăng trong các mối quan hệ song phương gần đây giữa Việt Nam và các nước Nhật, Mỹ, Nga cũng được cho là đang mở đường cho những nguồn FDI đầy tiềm năng.

Tuy nhiên, có một điều mà giới quan sát đồng thuận, đó là Việt Nam cần quyết liệt hơn nữa trong việc giải quyết các vấn đề hiện hữu trong cơ cấu đã và đang khiến các khối đầu tư tỉ đô quay mặt đi.

.

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2012

Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/bad-debt-in-bk-sys-07182012081852.html


Là kênh cung cấp vốn độc quyền cho nền kinh tế Việt Nam vì vậy tình hình kinh doanh của ngân hàng có tác động trực tiếp tới hoạt động các doanh nghiệp.

Nợ xấu là một trong những vấn đề khó khăn nhất của hệ thống ngân hàng hiện nay mà nhà nước cần giải quyết. Thông tín viên Nhân Khánh tìm hiểu tình trạng nợ xấu diễn ra như thế nào trong hệ thống ngân hàng và khả năng xử lý vấn đề này, mời quý vị theo dõi.

Ước tính, nguồn vốn ngân hàng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chiếm hơn 70%. So với các nước trong khu vực, sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng của các doanh nghiệp là rất lớn.

Định nghĩa nợ xấu ở Việt Nam
Theo một số nhà nghiên cứu, số nợ xấu trong ngân hàng có thể lên tới hơn 14%. Tuy nhiên theo giải trình trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình nói số nợ xấu trên toàn hệ thống là khoảng 10%, tương đương chừng 12 tỷ USD. Nhìn chung, số liệu về tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn chưa thống nhất. Lý do phát sinh sự chênh lệch về số liệu này, chúng tôi được Tiến sỹ Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Tài chính, Đại học Kinh tế TP.HCM, cho biết như sau:
Định nghĩa ở Việt Nam khác với các chuẩn mực như là quy định trong Basel II, Basel III (Hiệp ước quốc tế về Quản lý rủi ro). Định nghĩa về nợ xấu ở Việt Nam được phân loại theo các nhóm nợ, thường được tính trên cơ sở khả năng thanh toán của con nợ, hay nói cách khác là của các khách hàng khi đi vay. Nếu đến thời hạn mà khách hàng không có khả năng thanh toán lãi và vốn gốc theo hợp đồng thì khoản vay đó được xếp vào các nhóm nợ tương ứng. Tùy theo thời gian họ trì hoãn không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.
Định nghĩa ở Việt Nam khác với các chuẩn mực như là quy định trong Hiệp ước quốc tế về Quản lý rủi ro. Định nghĩa về nợ xấu ở Việt Nam được phân loại theo các nhóm nợ, thường được tính trên cơ sở khả năng thanh toán của con nợ, hay nói cách khác là của các khách hàng khi đi vay
Tiến sỹ Lê Đạt Chí
Đây là một điểm khác biệt lớn. Trong khi đó, các tiêu chuẩn đánh giá về xếp loại nợ ở một số các nền kinh tế phát triển thì người ta đánh giá khả năng trả nợ của chủ thể đi vay. Nếu chủ thể đi vay đó có khả năng trả trong tương lai thì được xem là nợ tốt. Cho nên đây là điểm khác biệt lớn so với quan điểm về nợ xấu ở Việt Nam, nợ xấu có nghĩa là con nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Ở Việt Nam không đánh giá trên cơ sở là tài sản đảm bảo của con nợ và khả năng trả nợ trong tương lai của con nợ. 

Các tiêu chuẩn quốc tế về nợ xấu không được thừa nhận hoàn toàn ở Việt Nam. Điều này dẫn đến tỷ lệ nợ xấu do các công ty xếp hạng tín dụng quốc tế đưa ra cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu Việt Nam tự xác định. Về các nguyên nhân gây ra nợ xấu, theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương là như sau:
Nợ xấu ở Việt Nam thì có nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân từ quản trị doanh nghiệp, có những nguyên nhân từ biến động của thị trường kinh tế thế giới và của giảm sức mua ở trong nước.
Cũng có nguyên nhân do lợi ích nhóm và các hành vi kinh doanh thiếu minh bạch. Đấy là 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu. 

Ở một góc độ phân tích khác, Tiến sỹ Lê Đạt Chí có ý kiến về nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ở Việt Nam là:
Bước đầu, trong các số liệu được công bố của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì có 2 vấn đề. Một là nợ xấu nằm ở các ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng này khi thực hiện một số chủ trương lớn của nhà nước trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội thì họ đã cho vay nhiều vào một số ngành nghề, lãnh vực mà nơi đó hầu như các thành phần kinh tế nhà nước đang nắm chủ đạo và chi phối. 

Cho nên mức nợ xấu đối với các ngân hàng quốc doanh sở hữu nhà nước đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn 50% trong tổng lượng nợ xấu. Khi nền kinh tế thế giới hay Việt Nam có biến cố, làm cho khả năng quản trị của các tài sản đầu tư kém hiệu quả, và rơi vào tình trạng mất hoặc kém đi khả năng thanh toán nợ.
các ngân hàng TMCP đều có những tập đoàn, những chuỗi doanh nghiệp ở đằng sau. Cho nên có khả năng là việc tài trợ từ hệ thống ngân hàng TMCP này cho các sân sau của họ vượt quá mức. Khi những doanh nghiệp sân sau này có biến cố thì dẫn đến họ không có khả năng trả nợ.
Nhóm thứ hai nợ xấu ở Việt Nam nằm ở khối các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP). Đặc điểm của các ngân hàng TMCP là bị chi phối bởi nhóm tư bản thân hữu hoặc các nhóm tư bản đang thống trị. Chúng ta thấy rằng là những ông chủ của các ngân hàng TMCP đều có những tập đoàn, những chuỗi doanh nghiệp ở đằng sau. 

Cho nên có khả năng là việc tài trợ từ hệ thống ngân hàng TMCP này cho các sân sau của họ vượt quá mức. Khi những doanh nghiệp sân sau này có biến cố thì dẫn đến họ không có khả năng trả nợ. Hoặc là các tài sản đó được định giá quá cao và bây giờ các tài sản đó bị sụt giảm giá trị. Cho nên sau khi thanh tra lại thì người ta vẫn thấy rằng, các tài sản đảm bảo cho các khoản vay này sụt giảm giá trị dẫn đến nợ xấu của Việt Nam tăng cao. 
 
Trách nhiệm của ngân hàng
Về nguyên tắc, nợ xấu cao thì lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, trong thực tế không hẳn như vậy. Theo công bố của hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần, lợi nhuận quý 1 năm nay của đa số các ngân hàng này thường ở mức hàng ngàn tỷ đồng. Vậy trách nhiệm của ngân hàng nằm ở đâu trong việc để phát sinh nợ xấu. Theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, cụ thể là như sau:
Theo tôi thì ngân hàng lãnh ít nhất là 50% trách nhiệm trong vấn đề nợ xấu này, trong nhiều trường hợp có lẽ là trên 50%. Tình trạng ngân hàng phải cấp tín dụng theo mệnh lệnh của một ai đó, đối với các ngân hàng thuộc thành phần kinh tế nhà nước là không ít. Chúng ta đều biết, là Vinashin đã nhận được rất nhiều các khoản vay mà hồ sơ cũng như dự án hết sức là sơ sài. Không có sự giải thích rõ ràng về hiệu quả, không có quá trình thẩm định khách quan.v.v.
Theo tôi thì ngân hàng lãnh ít nhất là 50% trách nhiệm trong vấn đề nợ xấu này, trong nhiều trường hợp có lẽ là trên 50%. Tình trạng ngân hàng phải cấp tín dụng theo mệnh lệnh của một ai đó, đối với các ngân hàng thuộc thành phần kinh tế nhà nước là không ít.
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh
Đối với các ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần thì có những ngân hàng hoạt động tương đối tốt; tình trạng thiếu thẩm định hoặc là lợi ích nhóm tương đối thấp. Tôi muốn đơn cử như ngân hàng ACB là nơi tôi có ấn tượng tốt đẹp. Còn có không ít những ngân hàng khác thì có các cổ đông lớn đã gây áp lực và đã nhận được những khoản vay rất lớn, theo những điều kiện ưu đãi để dành cho các dự án khá mạo hiểm; mà sau đó, các dự án đầu tư đó cũng có trường hợp là không thành công và nợ xấu đã phát sinh. Theo tôi, trong các trường hợp này thì lợi ích nhóm và các quy trình thẩm định rõ ràng là có thiếu sót.

Trong hệ thống ngân hàng cổ phần tại Việt Nam đang tồn tại một hiện tượng sở hữu chéo phức tạp. Một cổ đông lớn, một nhóm đầu tư sở hữu cổ phần ở nhiều ngân hàng; ngân hàng này sở hữu ngân hàng kia... Tình trạng này dẫn đến các nguyên tắc, quy định tài chính bị phá vỡ. Chẳng hạn, ngân hàng không được cho chính người sở hữu vay vốn nhưng nhờ mạng lưới sở hữu chéo, hầu hết các ngân hàng cổ phần đều cho chính chủ của mình vay.

Vấn đề xử lý nợ xấu liên quan trực tiếp đến các nhóm lợi ích. Liệu với chức năng quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước, vấn nạn này có giải quyết được dứt điểm hay không, hay đòi hỏi trách nhiệm xử lý ở một cấp cao hơn, chẳng hạn là Chính phủ. Tiến sỹ Lê Đăng Doanh có ý kiến như sau:
Tôi nghĩ rằng Ngân hàng Nhà nước có phần trách nhiệm trong quá trình thẩm tra, trong quá trình quy định các chuẩn mực về nợ xấu, trong quy trình đòi hỏi các báo cáo và thẩm định các báo cáo đó. Nhưng trách nhiệm và vai trò cao hơn, rất cần thiết là thuộc các thể chế chính trị.
Tôi nghĩ rằng Ngân hàng Nhà nước có phần trách nhiệm trong quá trình thẩm tra, trong quá trình quy định các chuẩn mực về nợ xấu, trong quy trình đòi hỏi các báo cáo và thẩm định các báo cáo đó. Nhưng trách nhiệm và vai trò cao hơn, rất cần thiết là thuộc các thể chế chính trị.
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh
Việc ai đó dùng quyền lực của mình ra lệnh phải cung cấp đất, phải cung cấp tín dụng cho những doanh nghiệp, cho những dự án nhất định. Đấy là các khiếm khuyết của thể chế chính trị, của thể chế kinh tế; trong đó quyền lực được sử dụng mà không có sự giám sát và thiếu công khai, minh bạch.
Nếu bây giờ Quốc hội biết được đầy đủ rằng, những mệnh lệnh đó đã được ra như thế nào và đã có những khoản tín dụng đã được chuyển mà không có các thủ tục, không có sự thẩm định, không có dự án một cách minh bạch thì chắc là Quốc hội cũng sẽ phải lên tiếng. Tôi nghĩ rằng, vấn đề nợ xấu sẽ đòi hỏi có một cuộc cải cách rất nghiêm túc, toàn diện trong công cuộc đổi mới về kinh tế, về chính trị và xã hội ở Việt Nam. 

Việt Nam cần có nhiều bước đột phá mạnh về mặt chính sách. Chẳng hạn, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu nhưng nợ của doanh nghiệp nhà nước thì rốt cuộc lại do người dân đóng thuế phải chịu. Do đó, giải quyết vấn đề nợ xấu quả là rất phức tạp.

Nợ xấu ngăn cản dòng vốn từ ngân hàng chảy sang các doanh nghiệp. Nếu không giải quyết được hiện tượng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, sẽ phát sinh tình trạng dùng tiền ngân sách giải quyết nợ xấu mà thực chất là dùng tiền thuế của dân đi cứu trợ cho các nhóm lợi ích, các ông chủ ngân hàng.


Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Sự sụp đổ dây chuyền của các tập đoàn kinh tế nhà nước

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vinaline-anoth-vn-eco-tumor-05232012081540.html


Vinalines sụp đổ mang theo nhiều dấu hỏi cho chính sách ưu tiên tập đoàn kinh tế nhà nước.

Trụ sở của Vinalines, Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam.

Ngay sau khi Vinashin sụp đổ không ít chuyên gia kinh tế, tài chánh trong và ngoài nước tiên đoán rằng còn nhiều Vinashin khác sẽ nối gót sụp theo nếu chính sách ưu đãi cho các tập đoàn nhà nước như hiện nay vẫn tiếp tục bất kể các hậu quả do Vinashin mang lại.

Phá sản vì chính sách ưu tiên của nhà nước

Nhà nước đã tái cơ cấu lại Vinashin trong đó chia khoản nợ mà tập đoàn này đang gánh cho nhiều tập đoàn nhà nước khác trong đó có Tập đoàn Dầu khí và Tổng công ty hàng hải Việt Nam còn gọi là Vinalines.

Dư luận cho rằng việc làm này tỏ ra thiếu cân nhắc khi bản thân Vinalines khi ấy cũng đang cần vực dậy. Các cấp cao nhất trách nhiệm tái cơ cấu tập đoàn Vinashin đã không biết hay cố tình không biết gì về sự thâm lạm mà Vinalines đang phải đối phó. Các kết quả kinh doanh tổng hợp năm 2007-2008 cho thấy Vinalines có lãi, nhưng đến năm 2009 thì tập đoàn này bị lỗ hơn 400 tỷ đồng, đến năm 2010 lại tiếp tục lỗ nặng hơn lên tới gần 1. 300  tỷ đồng.

Tính tới tháng 12 năm 2011, sau khi quá trình tái cơ cấu đã được 17 tháng, Vinalines cho biết không thể tiếp nhận 12 công ty con của Vinashin theo yêu cầu của Chính phủ. Điều này cho thấy tầm nhìn của những viên chức trách nhiệm trong đề án tái cơ cấu Vinashin hoàn toàn sai lầm nếu không muốn nói là thiếu trách nhiệm, gây hậu quả gián tiếp cho sự sụp đổ của Vinalines trong thời gian gần đây.

Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia. RFA/internet

Nếu chính phủ nắm rõ những món nợ của Vinalines và cách làm ăn có vấn đề của tập đoàn này thì sự thể đã không như hôm nay. Là một bộ phận của chính phủ, Vinalines được ưu đãi trên mọi phương diện. Về vốn, Vinalines được vay vốn với lãi suất ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Vinalines cũng được cho vay lại nguồn vốn trái phiếu quốc tế của Chính phủ. Vinalines được bảo lãnh vay vốn nước ngoài, cho phép phát hành trái phiếu, cũng như các ưu đãi khác mà một công ty tư doanh không thể nào có được.
Từ năm 2006 khi chính phủ Việt Nam bắt đầu thí điểm các tập đoàn thì tôi đã đưa ra ý kiến và báo chí Việt Nam có đăng hẳn hoi là việc tập trung vào nguồn lực kinh tế quá nhiều và để cho nhà nước trực tiếp làm là không đúng và chắc chắn là sẽ thất bại. Cái quan trọng nhất không phải tại vì lỗi của Vinashin và không phải lỗi của Vinalines mà lỗi tại đường lối của đảng Cộng sản Việt Nam.
TS Nguyễn Quang A


Riêng việc quản lý tài chính, giống như nhiều tập đoàn, tổng công ty khác đang làm hiện nay, Vinalines có hoạt động đầu tư rất dàn trải khi góp vốn vào 158 doanh nghiệp không đúng mục đích. Vinallines đã chi gần một nửa số tiền trong 1.000 tỷ đồng mà tập đoàn này được ưu đãi từ nguồn vốn trái phiếu phát hành năm 2010 để cho các công ty con vay mà không tính lãi. Kết quả là sau nhiều năm nợ không thể đòi của các đơn vị vệ tinh của Vinalines lên tới hơn 23.000 tỷ đồng.

Nhận xét về những sai phạm này, TS Nguyễn Quang A nguyên giám đốc viện Nghiên cứu phát triển IDS cho biết:

Từ năm 2006 khi chính phủ Việt Nam bắt đầu thí điểm các tập đoàn thì tôi đã đưa ra ý kiến và báo chí Việt Nam có đăng hẳn hoi là việc tập trung vào nguồn lực kinh tế quá nhiều và để cho nhà nước trực tiếp làm là không đúng và chắc chắn là sẽ thất bại. Cái quan trọng nhất không phải tại vì lỗi của Vinashin và không phải lỗi của Vinalines mà lỗi tại đường lối của đảng Cộng sản Việt Nam. Đường lối ấy của đại hội lần trước nữa đã đặt ra phải xây dựng những tập đoàn như thế, đường lối ấy hết sức là sai lầm. Có thể xây dựng những tập đoàn kinh tế Việt Nam hùng mạnh nhưng không phải cách như Đảng Cộng sản Việt Nam muốn tự làm và dùng nguồn lực của đất nước để tự mình làm. Chính cái đường lối ấy nó dẫn đến Vinashin, Vinalines và nó sẽ còn dẫn đến những đổ bể như thế nữa và đấy là những nguyên nhân chính.


Bài học về quyền lực kinh doanh của TĐKTNN

Trong kinh doanh, Vinalines cũng được ưu tiên vận chuyển hàng hóa trong nước. Việc đầu tư đăng ký, mua bán tàu biển cũng được thực hiện theo cơ chế ưu đãi và được nhà nước cho phép chỉ định thầu đóng mới tàu biển trong nước.

Thế nhưng Vinalines đã dùng những đặc quyền đặc lợi này để thao túng các hợp đồng khi tập đoàn này tự ý mua, bỏ tiền ra tân trang nhũng con tàu cũ kỹ quá hạn sử dụng để rồi sau đó nhiều con tàu này vẫn nằm trong các ụ đóng tàu mà không bao giờ xuất xưởng. Có hàng chục chiếc tàu bị bỏ hoang trong nhiều năm nhưng vẫn phải trả lương thủy thủ, thuyền viên cũng như tốn rất nhiều chi phí khác.
Vinalines Queen là con lớn và hiện đại nhất của Vinalines
Vinalines đã chi ra gần 23 ngàn tỷ để mua 73 con tàu từ nước ngoài về, tất cả đều là tàu cũ trong đó có 13 chiếc không thể đăng kiểm để hoạt động, có nghĩa là nếu hoạt động chúng sẽ bị quốc tế giam giữ và bị phạt theo luật hàng hải. Điển hình là tàu Vinalines Global bị bắt giữ tại Trung Quốc 28 ngày, gây thiệt hại hơn 1 triệu USD bao gồm tiền phạt và các chi phí giải quyết vụ kiện.
Vinalines đã dùng những đặc quyền đặc lợi này để thao túng các hợp đồng khi tập đoàn này tự ý mua, bỏ tiền ra tân trang nhũng con tàu cũ kỹ quá hạn sử dụng để rồi sau đó nhiều con tàu này vẫn nằm trong các ụ đóng tàu mà không bao giờ xuất xưởng. Có hàng chục chiếc tàu bị bỏ hoang trong nhiều năm nhưng vẫn phải trả lương thủy thủ, thuyền viên
Vinalines đã dùng những đặc quyền đặc lợi này để thao túng các hợp đồng khi tập đoàn này tự ý mua, bỏ tiền ra tân trang nhũng con tàu cũ kỹ quá hạn sử dụng để rồi sau đó nhiều con tàu này vẫn nằm trong các ụ đóng tàu mà không bao giờ xuất xưởng. Có hàng chục chiếc tàu bị bỏ hoang trong nhiều năm nhưng vẫn phải trả lương thủy thủ, thuyền viên

Tuy nhiên tai tiếng của Vinalines lớn nhất có lẽ là vụ mua ụ nổi No83M. Ụ nổi 43 tuổi này được Vinalines mua với giá 9 triệu USD, sau đó sửa chữa tại nước ngoài và vận chuyển về Việt Nam tốn thêm gần 5 triệu nữa. Cộng với những chi phí khác ụ nổi này lên tới 26,3 triệu USD - tương đương 70% giá đóng mới. Tuy nhiên, điều đáng nói là cho tới nay ụ nổi này vẫn không thể hoạt động.

Không tính các vụ việc khác xảy ra trước đó, qua vụ mua ụ nổi này thì hành động tham ô trong cấp lãnh đạo của Vinalines không khó thấy tuy nhiên báo chí vẫn không hiểu tại sao một vấn đề lớn như thế lại được bao che trong một thời gian rất dài, mãi tới hai ngày vừa qua khi Tổng giám đốc của tập đoàn Vinalines là ông Mai Văn Phúc bị bắt giam, ông Dương Chí Dũng đương kim Cục trưởng Cục Hàng hải nguyên Chủ tịch Hội Đồng Quản trị Vinalines bị lệnh truy nã khẩn cấp thì sự việc đã hoàn toàn ngoài tầm giải quyết của chính phủ. TS Nguyễn Minh Phong, Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế thuộc Viện nghiên cứu KHXH Hà Nội cho biết:

Thực ra hiện nay vụ Vinalines đang trong quá trình xem xét của các cơ quan chức năng, tuy nhiên qua những biểu hiện cũng như những thông tin ban đầu cho thấy rõ ràng ở đó đang có những vấn đề đặc biệt liên quan tới việc cố tình làm sai, kể cả có thể nói lạm dụng trách nhiệm để gây ra những hậu quả khá nặng nề cho đầu tư công cũng như cho phát triển của ngành và cho nền kinh tế nói chung.

Qua thực tiễn của Vinalines cũng như Vinashin và một số những vấn đề khác nữa thì có thể nói bên cạnh việc khẳng định vai trò và tầm quan trọng đã, đang và sẽ tiếp tục của đầu tư công của các tập đoàn nhà nước Việt Nam thì đã đến lúc cần phải nghiêm túc nhìn nhận những lổ hổng. Nhìn nhận lại cách thức quản lý và hoạt động của các tập đoàn này để sao cho nó duy trì được vị trí, vai trò và đặc biệt cần phải sửa chữa nâng cao hoạt động của nó  đặc biệt nữa là phải bịt chặt những kẽ hở tạo ra sự lạm dụng.

...vụ Vinalines đang trong quá trình xem xét của các cơ quan chức năng, tuy nhiên qua những biểu hiện cũng như những thông tin ban đầu cho thấy rõ ràng ở đó đang có những vấn đề đặc biệt liên quan tới việc cố tình làm sai, kể cả có thể nói lạm dụng trách nhiệm để gây ra những hậu quả khá nặng nề cho đầu tư công cũng như cho phát triển của ngành và cho nền kinh tế
TS Nguyễn Minh Phong


Rõ ràng ở đây sự lạm dụng cũng như tính không hiệu quả của tập đoàn gắn liền với mấy điểm. Mục tiêu hoạt động của nó nói  gì thì nói bên cạnh những mục tiêu phi lợi nhuận nó cũng có mục tiêu vì lợi nhuận. Thế nên trong quá trình hoạt động vì lợi nhuận như vậy rất dễ bị lạm dụng mà hiện nay các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của các dự án, hay tiêu chí để kiểm soát các quá trình thực thi cũng như những điều gọi là sự tuân thủ nhà nước xung quanh các hoạt động của tập đoàn hiện đang bị thiếu. Đây là một trong những điểm quan trọng nhất tạo ra tình huống thất thoát, lãng phí như những vi phạm vừa qua.



Ung thư chữa bằng thuốc cảm?

Vừa qua trong phiên họp quốc hội, một đề án về tái cấu trúc các tập đoàn đã được đệ trình và TS Nguyễn Minh Phong tỏ ra lạc quan khi chính phủ nhìn lại mấu chốt những vấn đề cơ bản nhằm vận dụng vào các tập đoàn trong thời gian sắp tới:

Trong đề án tái cấu trúc kinh tế mới trình Quốc hội trong đó có một điểm rất quan trọng đó là khẳng định tái cấu trúc tập đoàn theo hướng tập trung vào những lãnh vực quan trọng nhất cũng như phân chia lại các doanh nghiệp nhà nước theo bốn nhóm. Trong đó nhóm thứ tư liên quan tới hoạt động vì lợi nhuận thì phải bình đẳng hoàn toàn với những doanh nghiệp khác. Ba nhóm còn lại liên quan tới công ích, liên quan tới bảo đảm ổn định cũng như bảo đảm đột phá trong tăng trưởng sẽ có cơ chế mới và những cơ chế này sẽ phản ảnh trong hai luật mới sẽ ra đời.
Xét kỷ luật hay chọn người các thứ này khác cũng chỉ là vá víu một chút mà thôi, giải quyết một chút chứ không giải quyết được vấn đề cơ bản. Vấn đề cơ bản là đường lối sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng các lực lượng kinh tế quốc doanh ...

TS Nguyễn Quang A

Một là luật đầu tư công, hai là luật quản lý các doanh nghiệp nhà nước cũng như các hoạt động kinh doanh của nhà nước trong doanh nghiệp. Đây là hai điểm bổ xung rất quan trọng để tạo ra nền tảng pháp lý cũng như tạo ra rào cản pháp lý để ngăn chặn những hoạt động mang tính chất lợi dụng.

Tuy nhiên khác với những suy nghĩ lạc quan của TS Nguyễn Minh Phong, theo TS Nguyễn Quang A thì hình thức kỷ luật hay thay đổi nhân sự trong cách giải quyết sẽ không đi tới đâu nếu cốt lõi vấn đề không được xem xét và thay đổi, ông nói:

Xét kỷ luật hay chọn người các thứ này khác cũng chỉ là vá víu một chút mà thôi, giải quyết một chút chứ không giải quyết được vấn đề cơ bản. Vấn đề cơ bản là đường lối sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng các lực lượng kinh tế quốc doanh và chừng nào họ không xử được nguyên nhân chính ấy thì không có cách gì cả.

Vai trò chủ đạo của các tập đoàn nhà nước vẫn được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trong khẳng định trong Hội nghị Trung Ương 5 và vì vậy sự thay đổi cung cách quản lý là điều không thể tránh nếu không muốn những sự sụp đổ khác nối tiếp sau Vinashin và Vinalines, hai tập đoàn mà nhà nước đặt rất nhiều kỳ vọng trong những năm qua.


Kinh tế Việt Nam : Những gì đáng chú ý?

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-economy-in-the-first-half-year-vhoang-07082012132823.html


Nền kinh tế Việt Nam bước qua nửa đầu năm với những mừng lo lẫn lộn, nhưng có lẽ lo nhiều hơn mừng, khi tình trạng đình trệ sản xuất vẫn là nỗi ám ảnh, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng cao, số doanh nghiệp phá sản lũy tiến, cộng với đó là nguy cơ giảm phát.

RFA photo
Hàng hóa bày bán trên đường phố Hà Nội.


Những điều này cộng lại, khiến bức tranh chung khá ảm đạm. Ghi lại những điểm chính, Vũ Hoàng tổng hợp trong phần sau.

Những con số mới nhất phát đi từ Tổng cục Thống kê hôm 29/6 cho thấy nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu tích cực, GDP quí 2 ở mức 4,66%, tăng 0,66% so với quí 1. Thế nhưng, nhìn chung tăng trưởng Việt Nam trong nửa đầu năm nay vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng này của năm trước và thấp xa so với mục tiêu đề ra của cả năm nay ở mức 6 đến 6,5%. Để có thể đạt được tăng trưởng cả năm như kỳ vọng, nửa cuối năm nền kinh tế phải tăng rất mạnh ở mức trên 8%, đây là điều rất khó đạt được, nhất là khi nền kinh tế vừa chuyển từ lạm phát sang thiểu phát.

Đằng sau vẻ bề ngoài tiều tụy kia là một thể trạng khá ốm yếu của nền kinh tế, khi những con số biết nói đang gióng lên hồi chuông báo động: tổng nợ DNNN trên 1 triệu tỷ đồng, nợ xấu của hệ thống ngân hàng hơn 110,000 tỷ đồng, lượng hàng tồn kho chiếm đến 26% tổng số hàng hóa, doanh nghiệp giải thể, hoặc ngừng hoạt động tiếp tục tăng cao ở mức trên 26,000 doanh nghiệp; trong đó, những nhóm ngành đầu tầu động lực thúc đẩy nền kinh tế như công nghiệp và xây dựng thì đang gần chạm đáy và hồi phục chậm chạp.

Hàng tồn kho

hang-hoa-chat-dong-250.jpg
Hàng hóa chất cao trong một siêu thị ở Hà Nội hôm 11/6/2012. RFA photo

Mặc dù lần đầu tiên trong vòng 38 tháng, Việt Nam có mức tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI âm vào tháng 6, nhiều người cho rằng những biện pháp kiềm chế lạm phát bắt đầu phát huy tác dụng, thế nhưng, hiện tượng mới xuất hiện lại được xem là dấu hiệu của giảm phát. Tuy mới chỉ một tháng có chỉ số âm thì chưa thể đi đến kết luận, nhưng điều đáng lo ngại là vì nguồn gốc đưa đến chỉ số giá cả giảm, bắt nguồn từ hàng tồn kho chất đống, người dân cạn tiền chi tiêu, đó là mắt xích trong xâu chuỗi khép kín nguy hiểm: thất nghiệp, cầu giảm, giảm giá, nợ xấu và phá sản. 

Với con số 26% hàng tồn kho, đó là nỗi ám ảnh của nhiều ngành nghề: hàng triệu tấn than, xi măng nằm phơi khô, hàng ngàn tấn thép chất đống. Đi đến đâu, có mặt chỗ nào, người ta cũng thấy “hàng đại hạ giá” thế nhưng buôn bán vẫn ế ẩm, động lực chính để thúc đẩy nền kinh tế nói chung đang mất đà, đi vào bế tắc. Nhận xét về hiện tượng này, chuyên gia cao cấp Bùi Kiến Thành cho biết do mất mãi lực chi tiêu, nên giá tiêu dùng xuống đột biến và điều này cần phải thận trọng:
Doanh nghiệp đang ứ đọng hàng tồn kho rất nhiều, trong nền kinh tế không còn sức mua nữa.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành
“Lạm phát xuống rất là nhanh, nó biểu hiện gì và vì sao chỉ số giá tiêu dùng xuống nhanh đến như vậy? Số doanh nghiệp phá sản tăng thêm nữa, như vậy tình hình hoạt động kinh tế bị đình đốn. Chúng ta thấy rằng có hàng triệu người bị thất nghiệp, mất mãi lực mua bán và các doanh nghiệp bị tồn kho rất nhiều, bán hàng không được, tung ra bán không ai mua, bán một mua một cũng không ai mua bởi vì dân chúng không còn tiền nữa. Doanh nghiệp đang ứ đọng hàng tồn kho rất nhiều, trong nền kinh tế không còn sức mua nữa.
Một mặt doanh nghiệp không có tiền để sản xuất ra, một mặt hàng hóa ứ đọng lại, do vậy, nền kinh tế rất khẩn trương để sao có thể giải quyết được hàng tồn kho và sao doanh nghiệp có thể tiếp tục sản xuất. Vì thế chỉ số giá tiêu dùng xuống đột biến, đó không phải là một hiện tượng gì đáng mừng mà phải thận trọng để nghiên cứu.”

Doanh nghiệp phá sản

tap-doan-cmbo-250.jpg
Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế Việt Nam. RFA/internet.

Điều mà chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành vừa nhận xét khiến chúng ta nhớ lại trong năm ngoái Việt Nam có gần 80,000 doanh nghiệp phá sản, hoặc giải thể trong khi từ đầu năm đến nay lại có thêm hơn 26,000, chưa kể hàng ngàn doanh nghiệp khác còn đang trong giai đoạn “chết lâm sàng,” theo tính toán có khoảng hơn 30% trong số này được cho là do thiếu vốn kinh doanh vì lãi suất vay còn cao. Nhắc đến đây, chúng tôi, muốn điểm lại vấn đề lãi suất cũng là một trong những “điểm nóng” của nửa đầu năm nay. Mặc dù, đã được hạ giảm lãi suất đến 4 lần trong vòng 3 tháng, nhưng dường như nguồn vốn vẫn chưa đến được với các doanh nghiệp được dễ dàng. 

TS Ngô Trí Long, chuyên viên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhận xét thêm về tình trạng này như sau:
“Với mức độ giảm lãi suất cả huy động lẫn lãi suất cho vay như hiện nay thực tế là các doanh nghiệp vẫn rất khó tiếp cận, chỉ trên lý thuyết mà thôi, trên thị trường thông báo mà thôi. Thực tế với lãi suất như vậy thì vẫn còn khó khăn đối với các doanh nghiệp.”

Theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp thì mức lãi suất có thể chấp nhận được phải là dưới 10% chứ với mức ưu đãi 14% như hiện tại thì họ vẫn chưa thể tiếp cận được, chứ chưa nói là có thể làm ăn sinh lời.

Nợ xấu, tham nhũng

vinashin-250.jpg
Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam Vinashin. RFA photo.

Bên cạnh vấn đề hàng tồn kho cao, cộng với doanh nghiệp phá sản thì chuyện nợ xấu cũng là tâm điểm của báo giới Việt Nam trong 6 tháng đầu năm.

Nợ xấu xuất hiện từ khối doanh nghiệp Nhà nước kéo sang đến bên ngân hàng. Theo thông báo của NHNN đưa ra hôm 30/4, số nợ xấu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng xấp xỉ 110 ngàn tỉ đồng và tốc độ tăng trung bình gần 9% tháng. Trong khi đó, mới đây hôm 1/7, Bộ Tài chính cho biết tổng số nợ của 30 DNNN là trên 1 triệu tỷ đồng. Con số khổng lồ này khiến người ta nhớ lại chuyện nợ nần của Vinashin từ nhiều năm qua và mới đây là của Vinalines, với ông cựu chủ tịch Dương Chí Dũng hiện vẫn còn đang lẫn trốn. Nhận xét về vụ việc Vinalines, TS Lê Đăng Doanh, Nguyên viện trưởng Viện quản lý Kinh tế Trung ương cho biết:
“Việc đổ vỡ của Vinalines và việc truy nã ông Dương Chí Dũng là giọt nước tràn ly làm cho nghị trường quốc hội Việt Nam nóng lên vì các sai sót rất nghiêm trọng không thể chối cãi được của các tập đoàn kinh tế nhà nước.”
Hiện nay Việt Nam căn bệnh gọi là trầm kha rất cố hữu mà ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là năng suất, chất lượng hiệu quả còn rất thấp, tham nhũng chưa triệt được tận gốc, những tiềm năng bất ổn kinh tế vĩ mô rất lớn.
TS Ngô Trí Long
 chuyện tham nhũng, thất thoát nguồn vốn Nhà nước của các tập đoàn kinh tế lớn là chuyện kể mãi không hết. Thế nhưng, mỗi khi nhắc lại vẫn không khỏi khiến người nghe đau lòng vì suy cho đến cùng đó là tiền thuế mồ hôi nước mắt của bao người dân đóng góp. Người dân đang cạn tiền để chi tiêu, doanh nghiệp làm ăn chân chính đang đói vốn để làm ăn thì vẫn có những “con sâu” như Vinalines vung tiền bừa bãi, mua ụ nổi cũ, không sử dụng, tiêu tốn hàng trăm tỉ đồng.

Mặc dù nền kinh tế tháng 6 này bắt đầu có những dấu hiệu tích cực hơn so với hồi đầu năm, nhưng tốc độ còn rất chậm và mới chỉ dừng lại ở một vài chỉ số như lãi suất, tỉ giá. Trong khi đó đề án tái cấu trúc nền kinh tế vĩ mô vẫn dậm chân tại chỗ, mặc dù Quốc hội đã đề xuất, nhưng Chính phủ vẫn chưa thông qua. Hiện tại, nền kinh tế vĩ mô vẫn còn chứa đựng nhiều bất ổn. TS Ngô Trí Long kết luận:
“Hiện nay Việt Nam căn bệnh gọi là trầm kha rất cố hữu mà ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là năng suất, chất lượng hiệu quả còn rất thấp, tham nhũng chưa triệt được tận gốc, những tiềm năng bất ổn kinh tế vĩ mô rất lớn.”

Có thể thấy chỉ trong vòng 6 tháng, nhưng nền kinh tế Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến động với những thách thức nhiều hơn là cơ hội. Mấu chốt của vấn đề chính là tốc độ tăng trưởng chậm với những bất ổn nội tại kéo dài của nền kinh tế đang nhọc nhằn thoát khỏi lạm phát và vướng vào thiểu phát.